Độ cao trần nhà hay nóc nhà

1. Độ cao trần nhà hay nóc nhà ở vùng khí hậu nước ta cần đáp ứng mấy yêu cầu sau đây: Thoáng mát, dễ nhận gió mát tự nhiên;
Độ cao vừa phải để đảm bảo tiện nghi cuộc sống: Thí dụ, trần nhà đặt cao quá sẽ gây khó khãn cho việc lắp đặt và thay thế thiết bị điện, hoặc làm cho cầu
– thang trở nên phức tạp như độ dốc tăng, số bậc tăng, nếu dùng điều hoà nhiệt độ thì tốn năng lượng, v.v…
Độ cao trần nhà hay nóc nhà được tính từ cao độ ± 0,00 của mật nền nhà tới mặt trên của sàn nhà hay mặt trên của thanh nóc nhà (nếu là nhà mái dốc). Có thể lấy theo 2 cách sau đây:
Theo kích thước tiêu chuẩn kỹ thuật: Lấy theo mô dun kích thước ở nước ta theo truyền thống là Mô dun 3. Cụ thể kích thước chia chẵn cho 3. Thí dụ khung kỹ thuật hợp lý cho độ cao trần nhà ở nước ta là 2,1; 2,4; 2,7m (cho tầng hầm hoặc gác xép); 3,0; 3,3; 3,6; 3,9, 4,2m vv…(cho các tầng trên). Đối với nhà ở gia đình, nên lấy độ cao trần nhà 3,0- 3,3m là vừa phải. Không nên quá 3,6m.
– Theo kích thước Lỗ Ban: Lấy vào các cung tốt của thước Lỗ Ban với các kích thước gần sát với kích thước theo khung kỹ thuật nêu trên (xem Phụ lục 5). Việc lấy độ cao trần và nóc nhà theo kích thước Lỗ Ban là rất khó, vì kích thước Lỗ ban có độ chính xác tới 5mm, sai lệch quá 5mm có thể từ cung tốt chuyển sang cung xấu của thước. Muốn vậy cần phải đánh cao độ mặt nền chính xác lên tường, rồi trong quá trình xây dựng phải dắt kích thước rất chính xác từ cao độ này lên trên để đổ bê tông mái hoặc đặt thanh nóc của nhà. Đến khi lát nền lại phải lát đúng chính xác cao độ nền đã đặt.
2. Mái nhà
1) Yêu cầu thiết kế một mái nhà
Thiết kế mái nhà ngoài những yêu cầu về vẻ đẹp kiến trúc công trình cần đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật sau đây:
Không thấm dột;
Nhận được sinh khí vào nhà;
Không tích tụ nhiệt môi trường vào nhà.
Bền môi trường.
Mái nhà có thể là mái bằng, hoặc mái dốc lợp ngói hoặc tôn cách nhiệt. Nên là mái dốc có trần cách nhiệt.
Khi thiết kế mái nhà là mái bằng BTCT hay mái dốc có trần thì cần có giải pháp thông thoáng sao cho có sự giao lưu Khí giữa mái với không gian dưới nhà. Đây là yếu tô mang tính đặc thù của vùng khí hậu nóng ẩm Việt Nam. Trên trần BTCT cần có cửa thông khí lên không gian mái. Mái cần có khả năng thông khí ra ngoài không gian môi trường. Nói cách khác, mái nhà là một bộ phận thanh lọc khí vào nhà. Vì vậy nó phải là một hệ có khả năng thông thoáng khí từ trong nhà qua trần và mái lên không gian phía trên mái nhà, và ngược lại khí từ không gian phía trên mái nhà có thể lưu thông xuống đến không gian các tầng trong nhà.
Xét những yêu cầu trên thì mái nhà có thể cấu tạo theo các giải pháp sau đây:
– Nhà mái bằng BTCT: Có cửa thông khí lên trên. Cửa thông khí này thường đặt tại vị trí cầu thang trong nhà. Có lớp chống nóng đạt yêu cầu kỹ thuật (xem mục 5.2.5);
– Nhà mái dốc: Có thể là mái lợp ngói 22v/m2, ngói ta, lợp lá, tôn cách nhiệt với hệ trần (có thể là trần BTCT, trần vôi rơm, trần ghép tấm nhựa hay các loại hình tấm trần khác). Khi đó yêu cầu là phải có cửa thông khí qua trần nhà để đảm bảo khí dưới nhà có thể lưu thông lên trên mái.
– Trong vùng khí hậu nóng ẩm nước ta không nên làm nhà mái dốc bê tông dán ngói, vì khó nhận được sinh khí vào nhà, dễ nứt gây thấm dột, lại tích tụ nhiệt môi trường làm nóng không gian dưới nhà.
2) Đặc điểm mái nhà bê tông dán ngói trong điều kiện khí hậu nóng ẩm
Hiện nay nhiều nhà đang được thiết kế dùng mái dốc bê tông dán ngói. Tinh trạng phổ biến đến nỗi có thể gọi là “Hội chưng nhà mái bê tông dán ngói”. Ta hãy phân tích về loại mái này.
Loại mái này trong điểu kiện khí hậu nóng ẩm nước ta có mấy nhược điểm lớn sau đây:
a) Khó nhận Sinh khí vào nhà
Quan sát một góc mái BTCT dán ngói (Hình 4.14) ta thấy: Khi dòng khí thổi vào mái sẽ phân ra 2 luồng: Tà khí TK chạy thẳng xuống đất (trực vô tình) và Sinh khí SK đi theo đường nét của mái để vào nhà (khúc hữu tình). Do mái BTCT dán ngói rất kín nên sinh khí không vào được qua mái và bay đi mất. Kết quả ngôi nhà luôn thừa dương khí, thiếu âm khí. Nhà rất nóng, âm dương khí không cân bằng.

 Độ cao trần nhà hay nóc nhà 1

b) Tích tụ nhiệt bức xạ mặt trời
Bê tông là loại vật liệu vừa dẫn nhiệt, vừa tích nhiệt. Vì vậy vào những ngày nắng hè, bức xạ mặt trời nung nóng lớp ngói dán và bê tông mái rồi tích tụ nhiệt và bức xạ vào không gian bên trong mái nhà (Hình 4.15). Tác giả đã đo nhiệt độ không khí dưới mái
BTCT dán ngói vào một ngày nắng hè ở Hà Nội và thấy rằng không khí đạt 40°c vào thời điểm 13h trong ngày (Hình 4.15.b). Sau đó nhiệt độ tích tụ trong mái và nguội rất chậm. Đến sáng hôm sau nhiệt độ không khí trong mái vẫn không nguội hết. Khi đó mặt trời lại tiếp tục nung nóng mái.
Để làm nguội mái về đêm, người thiết kế thường dùng giải pháp đặt trên mái những cửa sổ chớp nhỏ, với hy vọng gió tự nhiên sẽ đưa không khí nóng ra ngoài (Hình 4.15.a). Tuy nhiên, trên thực tế gió không vào mái qua cửa chớp này nếu không có lực hút cưỡng bức. Kết quả là mái vẫn nguội rất chậm. Tầng áp mái của những nhà này luôn phải chịu bầu không khí nóng suốt cả ngày lẫn đêm. Đó là biểu hiện Dương khí quá lớn trong nhà.

c) Dễ nứt mái
Quan sát mặt cắt lớp bê tông mái trước (Hình 4.15.a) ta thấy lớp bê tông này không thể co nở theo thời tiết, do bị lóp bê tông mái 2 bên kìm giữ. Ban ngày khi bị mặt trời nung nóng, nó không nở được. Ban đêm khi nguội đi, nó cần co lại cũng không co được. Biến dạng không thực hiện được nhiều lần sẽ sinh ứng suất kéo gây nứt kết cấu bê tông mái. Tác giả đã khảo sát nhiều công trình và thấy rằng hầu hết các mái dốc bê tông dán ngói loại này đều bị nứt dọc theo chiều dốc mái. Chỉ có điều người sử dụng có thấy nó nứt hay không mà thôi.
d) Khó thi công
Do mái dốc nên việc ghép côppha và đổ bê tông mái rất khó khăn. Khó đầm chặt bè tông trên nền dốc, do đó mái dễ bị thấm. Điều kiện an toàn thi công trên mái cũng khó đảm bảo vì phải làm việc trên một mái dốc.
e) Dễ bong lớp ngói dán với bê tông mái
Khi mặt trời nung nóng mái, lớp ngói dán nóng lên trước, tiếp đó là lớp vữa dán, cuối cùng mới là bê tông mái. Do bê tôrig mái có quán tính ì, nên nhiệt độ của nó luôn lên
chậm và thấp hơn nhiệt độ lớp vữa dán ngói. Ban đêm lớp bê tông lại nguội chậm hơn. Hai lớp gắn kết này có hệ số dãn nở nhiệt khác nhau, lại có nhiệt độ khác nhau, làm cho chúng biến dạng co nở không đều. Lớp vữa luôn co giãn nhiều hơn lớp bê tông mái, lâu ngày dẫn đến chúng bóc tách nhau, và lóp ngói dán có nguy cơ bị trôi xuống.
Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy mái bê tông dán ngói không nên khuyến khích sử dụng cho các công trình ở vùng khí hậu nước ta. Có chăng chỉ nên dùng có tính trang trí cho bộ phận nào đó của nhà.