Những nguyên tắc sinh khắc cần nắm khi dự đoán

Nhất sinh khắc hợp phá
Nhật (ngày dự đoán) là yếu tố mạnh trong dự đoán. Nhật kiến là ngày lập quái dự đoán. Hào được Nhật sinh thì trở lên vượng, các hào khác không xung phá hại được nó. (Hào vượng là hào được Nhật Nguyệt sinh hợp kiến. Còn vượng đến mức nào thì phải xem tình huống cụ thể cua hào đó).
Hào động mà được Nhật sinh hoặc hợp thì khắc chế được hào khắc. Hào tĩnh vượng mà được Nhật xung thì thành hào ám động (mạnh gần như hào động).
Dụng thần suy yếu hoặc bị hưu tù mà được Nhật sinh, kiến là có cứu.
Kỵ thần hợp Nhật thì Dụng thần nguy hại. Nhật sinh, kiến Nguyên thần thì Dụng thần gặp thuận lợi.
Hào được Nhật sinh thì có bị Nguyệt xung khắc cũng không bị thương, bị hào động khắc cũng không bị tổn thương, hoặc có biến hoá khắc cũng không xấu.
Hào được Nguyệt sinh, nhưng Nhật khắc thì vẫn suy yếu. Phải có thêm một yếu tố khác sinh cho thì mới khắc phục được Nhật khắc.
Dụng thần bị Nhật Nguyệt hào động khắc là thân cô thế cô, việc sẽ rất xấu.
Dụng thần, Thế lâm Không vong mà được Nhật xung thì mất Không vong. Mùa xung cũng mất Không vong.
Chú ý: Hào hợp Nhật (nhất là hào DT, T) thì phải chờ ngày xung Nhật hoặc xung hào ấy thì mới ứng nghiệm. (Bệnh khỏi: đến ngày xung mới khỏi. Bệnh chết: đến ngày xung mới chết).
Hào bị Nhật phá là hào tĩnh không vượng hoặc bị tuần không mà có địa chi xung với địa chi của Nhật. Hào bị Nhật phá thì xấu.
Nguyệt sinh khắc phá
Nguyệt (tháng dự đoán) là yếu tố không mạnh bằng Nhật trong dự đoán, nhưng cũng góp phần chi phối tính tốt xấu trong dự đoán, nhất là dự đoán trong thời gian của tháng. Thí dụ: Xem người ốm mà Dụng thần bị Nguyệt phá thì sẽ nguy nan trong tháng đó. Ra khỏi tháng đó thì mới hết bị Nguyệt phá. Hoặc đến ngày hợp thì cũng không còn bị phá.
Nguyệt kiến tức là Chi tháng sẽ chi phối trong tháng đó. Nguyệt kiến có thể trợ giúp hào suy bằng sinh hợp để biến suy thành vượng. Khi dự đoán mà ứng nghiệm chậm thì tính theo tháng.
Dụng thần đựoc Nguyệt sinh, nhưng Nhật phá thì cũng chỉ được dưới trung bình. Nếu được Nhật sinh nhưng Nguyệt phá thì cũng chỉ được mức trung bình.
Hào đựoc Nguyệt sinh hợp thì tốt, ngược lại bị Nguyệt khắc, phá thì không tốt.
Kỵ thần bị Nguyệt phá thì không khắc được Dụng thần.
Căn cứ vào Nguyệt kiến để biết được hào đó là vượng hay không.
Hào bị Nguyệt phá là hào có Chi xung với Chi của tháng dự đoán. Cụ thể:
– Tháng giêng kiến Dần, hào Thân bị Nguyệt phá
– Tháng 2 Mão, hào Dậu
– Tháng 3 — Thìn, hào Tuất
– Tháng 4 Tị, hào Hợi
– Tháng 5 kiến Ngọ, hào Tý
– Tháng 6 kiến Mùi, hào Sửu –
– Tháng 7 kiến Thân, hào Dần
– Tháng 8 kiến Dậu, hào Mão
– Tháng 9 kiến Tuất, hào Thìn
– Tháng 10 kiến Hợi, hào Tị
– Tháng 11 kiến Tý, hào Ngọ
– Tháng 12 kiến Sửu, hào Mùi
Chú thích: Tháng ở đây tính theo Tiết khí (xem Bảng 6.3).
3. Hào động sinh khắc xung hợp
Trong dự đoán, hào động có sức mạnh lớn, nên có ý nghĩa rất quan trọng, “Thần cơ tại động hào”. Nó có thể sinh, khắc, xung, hợp với tất cả các hào trong quái chủ. Hào ở quái biến chỉ có thể sinh, khắc, xung, hợp với hào tương ứng ở quái chủ mà thôi.
Hào ám động (hào tĩnh vượng được Nhật xung) có sức mạnh như hào động.
Vượng thắng suy. Nhưng khi hào vượng tĩnh mà hào suy động biến, lại có sinh phù, thì vượng không thắng được.
2. Tam hợp
Có 4 Tam hợp cục thường dùng trong dự đoán. Đó là:
– Tị Dậu Sửu (Kim cục)
– Hợi Mão Mùi (Mộc cục)
– Thân Tý Thìn (Thuỷ cục)
– Dần Ngọ Tuất (Hoả cục).
Cần có đủ 3 Địa Chi để tạo thành một Tam hợp. Cụ thể cần phải có một trong các điểu kiện sau đây:
– 3 hào trong trong quẻ chủ có 3 Chi tạo thành một Tam hợp.
– 1 hào trong quả chủ và Nhật Nguyệt tạo thành một Tam hợp
– 2 hào trong quẻ chủ với Nhật hoặc Nguyệt tạo thành một Tam hợp.
Tam hợp cục sinh cho DT, T thì tốt, sinh cho Ư thì ta bị thiệt.
Kỵ thần hợp cục thì Dụng thần bị nguy hại.
3. Nhị hợp
Các hào sau đây gọi là Nhị hợp:
– Hào tĩnh hay động hợp với Nhật hoặc Nguyệt. Khi đó hào này sẽ trở thành vượng tướng. Thí dụ trong quái có hào Mão mà dự đoán vào ngày Tuất hay tháng Tuất thì hào này gọi là nhị hợp (Mão hợp Tuất).
– Hai hào động có Chi hợp.
– Hào động hợp với hào do nó biến ra.
Gặp nhị hợp là gặp sinh phù, còn có thể hoá giải được tưcng khắc. Thí dụ hào Mão Mộc động biến sang Tuất Thổ là được nhị hợp. Khi đó có thể hoá giải Mộc khắc Thổ.
4. Hào có cứu
Một hào bị một hào vượng khác khắc, nhưng lại có một hào động sinh cho (hoặc khắc chế hào khắc đó) thì hào này gọi là có cứu. Hoặc hào bị Nhật khắc, nhưng lại được một hào động sinh cho thì cũng gọi là hào có cứu. Có cứu tức là đỡ xấu đi.
5. Bàn về hào Nguyên thần
Nguyên thần là hào sinh Dụng thần. Nhưng không phải lúc nào cũng sinh được cho Dụng thần.
a) Nguyên thần sinh được cho Dụng thần khi:
Nguyên thần lâm Trường sinh, Đế vượng, Nhật kiến;
Nguyên thần động hoá tiến thần hoặc hoá hồi đầu sinh (hoá sinh trở lại);
Nguyên thần lâm Nhật kiến, Nguyệt kiến;
Nguyên thần lâm Nhật Nguyệt lại là hào động;
Nguyên thần và Kỵ thần cùng động(khi đó Kỵ thần sinh Nguyên thần để Nguyên thần sinh Dụng thần).
Nguyên thần vượng động mà lâm tuần không hoặc hoá không, vì động thì không còn tuần không nữa, nhưng phải sau xuất không mới ứng nghiệm.
b) Nguyên thần không sinh được Dụng thần khi:
Nguyên thần hưu tù lại gặp Tuyệt địa;
Nguyên thần hưu tù lại gặp tuần không, nguyệt phá;
Nguyên thần hưu tù không động, hoặc động biến thành Tuyệt, động hồi đầu khấc;
Nguyên thần động mà hoá thoái thần;
Nguyên thần động mà hoá phá, hoá tán;
Nguyên thần lâm tam mộ.
6. Bàn vê hào Kỵ thần
Kỵ thần là hào khắc Dụng thần. Nhưng cũng không phải lúc nào cũng khắc được Dụng thần. Có lúc khắc được, có lúc không.
a) Kỵ thần khắc được Dụng thần khi:
Kỵ than vượng tướng lâm Nguyệt kiến, Nhật hợp;
Kỵ thần vượng động mà lâm không hoặc hoá không;
Kỵ thần động mà lâm Nguyệt, được Nhật sinh phù;
Kỵ thần động hồi đầu sinh hoặc hoá tiến thần;
Kỵ thần và Cừu thần cùng động (khi đó Cừu thần sinh Kỵ thần để Kỵ thần khắc Dụng thần);
– Kỵ thần là Trường sinh, Đế vượng.
b) Kỵ thần không khắc được Dụng thần khi:
Kỵ thần hưu tù lại lâm Tuyệt;
Kỵ thần động hoá thoái thần;
Kỵ thần hưu tù lại cùng bị Nhật Nguyệt khắc;
Kỵ thần động mà hoá phá hoá tán;
Kỵ thần tĩnh mà lâm không vong, bị phá;
Kỵ thần động mà nhập mộ.
Tuy nhiên khi qua các thời điểm trên, Kỵ thần vượng lên thì lại khắc được Dụng thần.
7. Bàn vê nhập mộ
Có 3 cách nhập mộ: Dụng thần nhập mộ; động mà nhập mộ; động mà hoá mộ. Dụng thần không nên nhập mộ. Kỵ thần nhập mộ thì tốt.
Dụng thần nhập mộ thì phải chờ đền ngày xung mộ mới có ứng nghiệm;
Dụng thần vượng mà gập tuần không, phá thì phải chờ đến lúc xuất không việc mới ứng nghiệm.
Dụng thần trùng lặp hoặc thái quá thì nên bị khắc hoặc bị mộ thì sự việc mới thuận lợi. Thí dụ Thổ là Dụng thần, lại gặp Thổ của Thìn Tuất Sửu Mùi là Dụng thần trùng lặp thái quá. Phải chờ có Dần Mão Mộc khắc mới ứng nghiệm.
10. Tham sinh quên khắc
Trong dự đoán, khi một hào nào đó Xung, khắc, hình, hại Dụng thần, Thế mà được một hào khác sinh hợp thì nó sẽ tham sinh mà quên khắc hình xung hại DT, T. Có thể nêu mấy thí dụ:
– DT Sửu Thổ.
Hào động Dần Mộc khắc DT (Mộc khắc Thổ).
Nhưng Dần Mộc động biến sang Tý Thuỷ. Khi đó Thuỷ sinh Mộc. Hào động Dần Mộc tham sinh nên không khắc DT nữa.
– DTTỊHoả.
Hào Hợi Thuỷ động biến, khắc DT (Thuỷ khắc Hoả).
Thêm hào Mão Mộc cùng động biến.
Khi đó hào Hợi Thuỷ mải sinh Mão Mộc để Mão Mộc sinh DT Tị Hoả. Khi đó Hợi Thuỷ không khắc DT Tị Hoả nữa.
– DT Thân Kim
Hào Hợi Thuỷ động biến.
Khi đó Hợi hình Thân, nhưng có Kim sinh Thuỷ nên hết hình.
– DT Dậu Kim.
Nguyên thần Thìn Thổ.
Ta có Thìn Thìn hình. Nhưng vì Thìn hợp Dậu nên hết hình. Ở đây gọi là hợp hình.
– DT Tuất Thổ.
Kỵ thần Mão Mộc.
Ta có Mộc khắc Thổ. Nhưng vì Mão hợp Tuất nên không khắc nữa. Ta gọi là hợp khắc.

Xem thêm: Bán nhà Hà Nội có sổ đỏ

Những yếu tố dùng để phân tích quẻ dịch

Những yếu tố dùng để phân tích quẻ dịch :

Sinh Vượng Mộ Tuyệt
Vòng trường sinh của vạn vật có 12 bước sau đây:
1. Trường sinh (S): Vạn vật sinh ra
2. Mộc dục: Mới sinh, còn yếu ớt.
3. Quan đới: Bắt đầu phát triển.
4. Lâm quan: Giai đoạn trưởng thành.
5. Đế vượng (V): Đã phát triển đến cực thịnh.
6. Suy: Bắt đầu suy yếu.
7. Bệnh: Lâm bệnh.
8. Tử: Chết.
9. Mộ (M): Vào mộ. (Con đi thi mà vào Mộ thì không làm được bài).
10. Tuyệt (T): Đã tuyệt diệt.
11. Thai: Thai nghén chu kỳ vòng trường sinh mới. (Xem có con mà trong quẻ có hào Thai thì mới hy vọng có con).
12. Dưỡng: Thai nghén cần được nuôi dưỡng.
Trong 12 bước này có 4 bước quan trọng là Sinh, Vượng, Mộ, Tuyệt – thường dùng trong dự đoán để xem xét các hào là Trường sinh, Đế vượng hay lâm Mộ lâm Tuyệt. Hào Dụng thần, Thế được Sinh hay Vượng thì tốt, lâm Mộ hay Tuyệt thì xấu. 4 bước quan trọng này có liên quan với Tam hợp cục: Kim cục, Mộc cục, Thuỷ cục, Hoả cục. Cụ thể như ở Bảng 8.5:

Những yếu tố dùng để phân tích quẻ dịch  1

 Vượng Tướng Hưu Tù Tử
Vượng Tướng Hưu Tù Tử là những khái niệm đặt ra khi luận về quan hệ sinh khắc theo 4 mùa. Cụ thể như ở Bảng 8.6.
Ta nói:
– Mùa Xuân mang hành Mộc nên Mộc Vượng.
– Mộc Vượng sinh Hoả nên Hoả Tướng.
– Thuỷ sinh Mộc Vượng nên hết sức – Thuỷ Hưu.
– Kim khắc Mộc Vượng nên Kim Tù (vì không khắc được).
– Mộc Vượng khắc Thổ nên Thổ chết – Tử.

Những yếu tố dùng để phân tích quẻ dịch  1

Ngày không vong
1. Ta biết tên mỗi ngày được gọi bằng một tên Can Chi. Trong 60 hoa giáp người ta chia ra thành 6 tuần Giáp, mỗi tuần 10 ngày tương ứng với 10 Can: Giáp Ât Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý. Nhưng tên ngày theo địa Chi lại có 12 Chi: Tý Sửu Dấn Mão Thìn Tị Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi, so với Can thì mỗi tuần Giáp thừa ra 2 Chi. Hai Chi này gọi là Chi không vong. Vậy cứ mỗi tuần Giáp 10 ngày thì có 2 ngày Không vong, là 2 ngày đứng trước ngày đầu của tuần Giáp. Ngày Không vong tính theo tuần Giáp cụ thể như sau:
– Tuần Giáp Tý có 2 ngày Không vong là: Tuất, Hợi.

Những yếu tố dùng để phân tích quẻ dịch  1

Xem thêm: Bán nhà nhanh chóng. Dễ dàng. Đăng tin của bạn tại Bán nhà Hải Phòng

Một số thuật ngữ cần nhớ trong quẻ Dịch

 Một số thuật ngữ cần nhớ trong quẻ Dịch

– Thượng quái = Ngoại quái: là quái đặt trên trong một trùng quái.
– Hạ quái = Nội quái: là quái đặt dưới trong một trùng quái.
– Quái Phản ngâm: Là quái biến có ngũ Hành khắc quái chủ.
– Hào phản ngâm: là hào trong quái Phản ngâm mà có Hành khắc với hào tương ứng trong quái chủ.
– Quái Phục ngâm: Là quái chủ và quái biến có ngũ hành địa chi trùng nhau.
– Quái Quy hồn: là quái cuối cùng trong hệ 8 quái biến.
– Quái Du hồn: Là quái trước quái Quy hồn.

– Quái Dụng = Quẻ Dụng: Là đơn quái có hào động trong trùng quái.
– Quái Thể = Quẻ Thể: Là đơn quái không có hào động trong trùng quái.
– Hào Dụng thần: Là hào tiêu chí để dự đoán.
– Hào Nguyên thần: Là hào sinh cho hào Dụng thần.
– Hào Kỵ thần: Là hào khắc hào Dụng thần.
– Hào Cừu thần: Là hào khắc Nguyên thần, sinh cho Kỵ thần, bị DT khắc.
– Hào Thế: Là ta hay phía ta.
– Hào ứng: Là đối phương hay sự việc.
Quan hệ sinh khắc giữa các hào như sau:

 Một số thuật ngữ cần nhớ trong quẻ Dịch 1

– Hào động biến: Là hào biến đổi âm dương từ quái chủ sang một hào tương ứng ở quái biến. Hào Dương biến sang Âm ta ký hiệu (o), Âm biến sang Dương- ký hiệu (x).
– Hoá tiến, hoá thoái: Các hào trong quái chủ và các hào tương ứng trong quái biến tiến theo địa Chi và có cùng Hành thì gọi là Hoá tiến (Dần- Mão, Tị- Ngọ, Thân- Dậu, Hợi- Tý, Sửu- Thìn, Thìn- Mùi, Mùi- Tuất, Tuất- sỉtu). Ngược lại lùi theo địa Chi là Hoá thoái (Mão- Dần, Ngọ- Tị, Dậu- Thân, Tý- Hợi, Thìn- Sửu, Sửu- Tuất.

 Một số thuật ngữ cần nhớ trong quẻ Dịch 1

Tuất- Mùi, Mùi- Thìn). Nếu một hào trong quái chủ hoá sang hào tương ứng trong quái biến mà có hành sinh cho hào ở quái chủ thì gọi là Hồi đầu sinh (nếu tốt thì tốt lên, nếu xấu thì xấu thêm), ngược lại, khắc hào ở quái chủ thì gọi là Hồi đầu khắc (nếu tốt thì kém tốt đi, nếu xấu thì kém xấu đi).
Trùng quái lục xung
Trùng quái lục xung là trùng quái có các hào xung nhau từng đôi một.
Thí dụ: Trùng quái Tốn có các hào xung nhau từng đôi một như sau: Sửu xung Mùi;
Hợi xung Tị; Dậu xung Mão.

Xem thêm: Bán nhà nhanh chóng. Dễ dàng. Đăng tin của bạn tại Bán nhà Hải Phòng

Lập quẻ Dịch theo tượng quẻ

Có 8 quẻ là: Càn Đoài Ly Chấn Tốn Khảm Cấn Khôn. Biểu tượng của 8 quẻ này được thể hiện trong Bảng 8.10. Tám quẻ này cùng với số tương ứng của nó được dùng để lập một trùng quái.
a) Lập trùng quái Chủ (Gốc)
Trùng quái Chủ được lập bằng cách lấy trực tiếp các tượng quẻ đơn đặt trên dưới nhau để được một trùng quái (quẻ kép). Có nhiều cách khác nhau để chọn tượng quẻ, thí dụ như:
Dùng Hướng nhà và Sơn nhà lập thành một Trùng quái. (Đặt Hướng trên, Sơn dưới). Thí dụ: Nhà Sơn Tý Hướng Ngọ. Ta biết Tý nằm ở phương Bắc trong Hậu thiên bát quái do quái Khảm quản, còn Ngọ ở phương Nam do quái Ly quản, Vậy ta được quẻ Hoả Thuỷ Vị tế (Ly trên Khảm dưới):
Dùng Hướng nhà phối với Mệnh tinh của chủ nhà thành một trùng quái, quái Thượng là mệnh chủ, quái Hạ là hướng nhà. Thí dụ chủ nhà mệnh Chấn, nhà hướng Đông Nam (Tốn) ta được quẻ Lôi Phong Hằng (Chấn trên Tốn dưới):
Dùng tượng người hay con vật phối với hướng đi tới lập thành một trùng quái, quái Thượng là người hay con vật, quái Hạ là hướng đi tới. Thí dụ: có một thanh niên đi từ hướng Ly tới đê hỏi xem quẻ.

Dùng hình thái, màu sắc, âm thanh, vị trí, tính chất của sự vật, số nét chữ của họ hoặc tên người xin quẻ v.v… để xác định quẻ dịch. Thí dụ: màu đen thuộc Thuỷ là quẻ Khảm, màu đỏ Hoả thuộc Ly; sự vật lúc xem quẻ thấy tươi sáng là thuộc quẻ Ly, vui vẻ thuộc quẻ Đoài (xem Bảng 8.9). Tuỳ theo kinh nghiệm và sự sáng tạo của người lập quẻ mà vận dụng nhiều cách khác nhau để lập trùng quái Chủ.
Chú thích: Khi lập trùng quái Chủ có thể căn cứ vào số đã có để xác định quẻ (gọi là phương pháp Tiên thiên chiêm quái), hoặc căn cứ vào quẻ đã có để xác định số (gọi là phương pháp Hậu thiên chiêm đoán). Điều này tuỳ thuộc vào điều kiện chiêm đoán.
b) Lập trùng quái Biến
Để lập trùng quái Biến cần phải tìm hào biến trong quẻ Chủ. Trong trường hợp này ta lấy tổng gồm số của quẻ trên cộng với sô’ của quẻ dưới (xem Bảng 8.1) rồi cộng thêm số của giờ lập quẻ, hay giờ người đến hỏi rồi chia cho 6. Số dư chính là hào động biến. Cho hào này biến Âm sang Dương hay Dương sang Âm ta sẽ có được trùng quái Biến.
Thí dụ: quẻ Hoả Thuỷ Vị tế ở trên được lập vào giờ Tị là số 6, số của quẻ Ly là 3, số của quẻ Khảm là 6. Ta có: 3 + 6 + 6 = 15, chia 6 dư 3, vậy hào 3 Âm biến thành Dương. Ta được quẻ biến là Hoả Phong Đỉnh:

Lập quẻ Dịch theo tượng quẻ 1

Bát quái phối Can Chi
Sau khi lập được trùng quái, ta cần phối Can Chi cho tùng hào. Có thể phối theo Thiên Can hay Địa Chi.
1) Phối Thiên can
Phối Thiên can theo bát quái Tiên thiên được áp dụng để lập trùng quái theo Can. Cụ thể nguyên tắc phối như sau:
Quái Càn: Thượng quái phối với Can Nhâm
Hạ quái Giáp
Quái Khôn: Thượng quái phối với Quý
Hạ quái Ất
Quái Đoài: Phối với Đinh
Ly quái: Kỷ
Chấn quái: Canh
Tốn quái: Tân
Khảm quái: Mậu
Cấn quái: Bính

Lập quẻ Dịch theo tượng quẻ 1

Phối Địa Chi
Địa Chi được phối theo nguyên tắc sau:
1. Quái Dương (+) phối Chi Dương (+), bỏ Chi Âm (-)
Quái Âm (-) phối Chi Âm (-), bỏ Chi Dương (+).
2. Phối theo thứ tự từ hào 1 đến hào 6.
Phối Chi (+) bắt đầu từ Tý (thuận chiều KĐH)
Phối Chi (-) bắt đầu từ Sửu (ngược chiều KĐH).
Nguyên tắc phối Địa chi được thể hiện trong Bảng 8.2 và Hình 8.1 dưới đây.
Chú ý: Vì Địa Chi được phối liên tục từ hào 1 đến hào 6, nên việc phối cho các hào 4,5,6 ở quái Thượng cần được tính thứ tự từ hào 1 rồi bỏ qua 3 hào đầu, bắt đầu phối từ hào 4 đến hào 6.

Lập quẻ Dịch theo tượng quẻ 1

 

Xem thêm: Bán nhà nhanh chóng. Dễ dàng. Đăng tin của bạn tại Bán nhà Hải Phòng

Lập quẻ dịch

 Cách lập một quẻ dịch (Trùng quái)
Tuỳ theo điều kiện cụ thể, có thể lập một quẻ Dịch (một trùng quái) bằng cách dựa theo thời gian năm tháng ngày giờ, gieo đổng tiền, hoặc ghép nối các tượng quẻ (thí dụ như quẻ đơn Hướng nhà ghép với quẻ đơn mệnh quái của chủ nhà).
/. Lập quẻ Dịch ịtrùng quái) theo thời gian Năm, Tháng, Ngày, Giờ Các bước lập Trùng quái gồm có:
a) Xác định sô’ cho thời gian
• Giờ:
Giờ Tý số 1 Giờ Sửu số 2 Giờ Dần số 3
Giờ Hợi số 12.
• Ngày (âm lịch):
Ngày mồng 1 số 1 Ngày mồng 2 số 2 Ngày mồng 3 số 3
Ngày 30 số 30
• Tháng (âm lịch):
Tháng Giêng (Dần) số 1 Tháng Hai (Mão) số 2 Tháng Ba (Thìn) số 3
Tháng 12 (Sửu) số 12
• Năm:
Năm Tý số 1 Năm Sửu số 2 Năm Dần số 3
Nãm Hợi số 12
Chú thích:
• Khi dự đoán vận mệnh cuộc đời cho ai thì lấy Giờ, Ngày, Tháng, Năm sinh của người đó. Trọng đó Nãm sinh lấy theo hàng Can với các số tương ứng như sau:

Lập quẻ dịch 1

• Lấy thời điểm trước hoặc sau Lập Xuân để tính năm tháng sinh của mỗi người. Người sinh trước Lập Xuân thì tính năm sinh là năm trước. Sinh sau Lập Xuân thì tính năm sau. Còn các tháng thì lấy Tiết lệnh của tháng để xác định tháng sinh. Trước Tiết lệnh là vào tháng trước, sau Tiết lệnh là vào tháng sau. (Tiết lệnh tháng xem Báng 6.3). Việc xác định tứ trụ chuẩn xác sẽ giúp cho xác định đúng tính vượng suy trong quẻ Dịch.
Thí dụ: – Giả sử năm 1987 – Đinh Mão, Lập Xuân vào 15hl5p ngày 7/1 âm lịch.
Người sinh trước I5hl5p ngày 7/1 sẽ có tứ trụ là:
Năm 1986 – Bính Dần, tháng 12 – Tân Sửu, ngày 7 – Giáp Thân, giờ Thân. Người sinh sau 15hl5p có tứ trụ là:
Năm 1987- Đinh Mão, tháng 1 – Nhâm Dần, ngày 7 – Giáp Thân, giờ Thân.
– Giả sử nãm 1986, Lập Hạ vào 2h31p ngày 28/3 âm lịch.
Người sinh trước Tiết Lập Hạ có tứ trụ là:
Năm 1986 – Bính Dẩn, tháng 3 – Nhâm Thìn, ngày 28 – Canh Tuất, giờ Dần. Người sinh sau Tiết Lập Hạ có tứ trụ là:
Năm 1986 – Bính Dần, tháng 4 – Quý Tị, ngày 28 – Canh Tuất, giờ Dần.
Chú thích: – Nếu tiết lệnh nằm vào tháng nhuận thì trước tiết lệnh thuộc vào tháng nhuận, sau tiết lệnh thuộc vào tháng sau.
– Lệnh tháng chỉ chung để xét tính suy vượng của quẻ. b) Mã hoá 8 cpie’ đơn theo số dư tính toán Cụ thể như sau:

Lập quẻ dịch 1

c) Tính toán lập quẻ + Quẻ chủ
• Thượng quái
Lấy tổng A gồm các số của Ngày + Tháng + Nãm chia cho 8, được số Dư tra Bảng 8.1 được quẻ trên (Thượng quái).
• Hạ quái
Lấy tổng B gồm các con sô Giờ + Ngày + Tháng + Năm chia cho 8 được sô Dư, tra Bảng 8.1 được quẻ Hạ (Hạ quái).
Chú thích: Tổng A và tổng B nếu không có số Dư thì lấy số Dư là 8 để tra Bảng 8.1.
+ Quẻ biến
• Xác định Hào động biến
Lấy tổng B chia cho 6, được số Dư chính là Hào động biến.
Chú thích: Khi không có số Dư thì hào 6 là động biến.
Thí dụ cụ thể: Lập trùng quái cho Giờ Ngọ, Ngày Tân Mão (Ngày 13), Tháng Mậu Thân (Tháng 7), Năm Đinh Hợi 2007.
– Ta có các số của tứ trụ như sau: Giờ = 7; Ngày =13; Tháng = 7; Năm = 12
– Lấy tổng A = 13 + 7 + 12 = 32, Dư 0, lấy số Dư là 8. Tra Bảng 8.1 được quẻ Khôn là Thượng quái.
– Lấy tổng B = 32 + 7 (số của Giờ) = 39; Chia cho 8, Dư 7. Tra Bảng 8.1 được quẻ Cấn là Hạ quái
– Đặt quẻ Khôn trên, quẻ Cấn dưới ta được quẻ chủ là trùng quái Địa Sơn Khiêm
– Lấy tổng 32 + 7 = 39; chia cho 6, Dư 3. Vậy Hào 3 động biến từ Dương sang Âm, ta được quẻ biến là trùng quái Thuần Khôn (Khôn vi Địa).

Lập quẻ dịch 1

 

Sơ lược về khoa học dự đoán

 Sơ lược về Dự đoán cổ
Ngày nay loài người có nhiều loại hình dự báo như: dự báo khí tượng thuỷ văn, dự báo tiến bộ kỹ thuật, dự báo phát triển kinh tế, dự báo trữ lượng mỏ v.v… Bản chất của những dự báo này là dựa vào những thông tin mang tính thống kê của quá khứ và hiện tại mà suy đoán tương lai. Độ chính xác của những dự báo này phụ thuộc vào trình độ phát triển khoa học kỹ thuật và trình độ phân tích của con người làm dự báo. Trong việc này, gọi là dự báo hay dự đoán cũng vậy. Người xưa lại có cách dự đoán của mình dựa theo tương quan Âm Dương Ngũ hành Can Chi. Tạm gọi đó là Dự đoán cổ. Độ chuẩn xác của dự đoán cổ cũng chuẩn xác nhiều khi đến phải ngạc nhiên. Nó gần như là một quy luật của Trời Đất mà con người còn đang tiếp cận đến.
Dự đoán cổ có nhiều loại hình khác nhau. Mỗi loại có công năng riêng của nó, nhưng đã từ lâu loài người thừa nhận dự đoán theo quẻ Dịch là có cơ sở và độ chuẩn xác khá cao. Vì vậy trong chương này tác giả chỉ đi sâu giới thiệu phương pháp dự đoán theo quẻ Dịch.
Dự đoán về nhà theo quẻ Dịch
Dự đoán theo quẻ Dịch có 2 phương pháp: theo tượng quẻ và theo phân tích từng hào trong quẻ. Dù cách này hay cách khác, việc đầu tiên là phải lập được quẻ Dịch dưới dạng một trùng quái, sau đó phân tích quẻ Dịch, rồi rút ra kết luận dự đoán (dự báo).
Quẻ Dịch gồm có quẻ đơn (còn gọi là Đơn quái) và quẻ kép (còn gọi là Trùng quái). Quẻ đơn gồm có 3 hào, và không nằm ngoài 8 quẻ: Càn Đoài Ly Chấn Tốn Khảm Cấn Khôn. Trùng quái gồm 2 quẻ đơn đặt trên và dưới liền nhau, tạo thành một quẻ kép gồm 6 hào. Quẻ trên gọi là Thượng quái hay Ngoại quái. Quẻ dưới gọi là Hạ quái hay Nội quái. Vì là có 8 quẻ đơn chồng lên nhau theo quy luật thứ tự biến các hào, nên ta sẽ có 8 X 8 = 64 trùng quái. Tên của các trùng quái xem ở Phụ lục 7.
Trong dự đoán người ta phân tích tính chất sinh khắc của các quẻ và các hào dựa trên thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Sau đây ta cần đi cụ thê vào phương pháp lập một quẻ Dịch và tìm hiểu các yếu tô phân tích một quẻ dịch nói chung, trước khi đi vào phân tích cụ thể một quẻ Dịch để dự đoán về ngôi nhà.

Điều chỉnh Sơn Hướng nhà

Khi một ngôi nhà không được Sơn, Hướng (toạ Sơn lập Hướng) thì sẽ kém vượng Khí, nói cách khác bị tổn đinh (nhân khẩu) và kém tài lộc. Vậy trong điều kiện có thể, nên kiểm tra lại Sơn Hướng nhà theo chỉ dẫn ở mục 4.1.2 và điều chỉnh lại Sơn Hướng của nhà cho đạt yêu cầu thì cuộc sống trong nhà này sẽ tốt lên nhiều.
Lấy thí dụ: Ngôi nhà có mặt bằng ở Hình 7.28. Nhà được xây vào năm 2002, tức là vào Vận 7 (từ năm 1984 đến nãm 2003). Nhà trông về phương Đông Nam. Lúc đầu nhà này có Sơn Canh, Hướng Giáp. Sau khi phi tinh Sơn Hướng theo mục 4.1.2, tác giả có bản đồ phi tinh Sơn Hướng như ở Hình 7.28.a). Phân tích ở đây thì thấy ở cung Hướng (Chấn) sao chủ Vận 7 nằm ở bên góc trái, là góc của sao Sơn. Như vậy là không hợp vị.
Còn ở cung Sơn (Đoài) thì sao 7 nằm ở góc phải, là góc của sao Hướng, cũng không hợp vị. Như vậy, nhà này phạm vào “Thướng sơn há thuỷ”. Ở nhà này nhất định là tổn đinh háo tài. Điều chỉnh trong trường hợp này, cách tốt nhất là đổi lại Sơn Hướng nhà.

Điều chỉnh Sơn Hướng nhà 1

Điều chỉnh Sơn Hướng nhà 1

Hỗ trợ biện pháp Điều chỉnh bằng Phù hiệu linh vật
Trên đây đã giới thiệu một số thí dụ cụ thể đê Điều chỉnh nhà. Các biện pháp ở đây tập trung vào việc điều chỉnh dòng khí vào nhà, thanh lọc bớt tà khí. Trên thực tế thì ngoài biện pháp điểu chỉnh dòng khí bằng các giải pháp kỹ thuật nêu trên, nếu được đặt thêm các phù hiệu linh vật thì cũng có tác dụng hỗ trợ. Xin nêu ở đây một vài nguyên tắc dùng phù hiệu linh vật:
1. Đặt Long (tượng Rồng): Đặt Long có tác dụng chế sát, sinh vượng, nhưng đặt phải đúng nguyên tắc. Long nên phối với Thuỷ. Vì vậy nếu đặt ở 2 bên bể cá là tốt. Nếu nhà gần sông, biển thì đặt Long hướng ra sông biển sẽ có tác dụng thu thuỷ, mà Thuỷ cũng là tiền tài. Long nên đặt ở phương Bắc, vì phương Bắc mang hành Thuỷ, có thuỷ khí vượng. Không đặt Long chĩa vào phòng ngủ. Nếu là tranh Long thì nên dùng khung màu ánh Kim để có Kim sinh Thuỷ, và treo ở vị trí phương Bắc trong nhà. Người tuổi Tuất không dùng tượng rồng vì Tuất Thìn xung nhau.
2. Đặt Sư tử: Sư tử được coi là thú hiền lành. Đặt sư tử có tác dụng trấn trạch, trừ tà. Có thể đặt sư tử đá hoặc đồng. Đặt ở phương Bắc, đầu hướng ra ngoài cửa. Nên đặt phối thành đôi, một cái một đực (khi đặt thấy 2 sư tử nhìn nhau là được). Nếu một bị vỡ thì thay cả đôi. Trên cửa lớn treo đầu sư tử cũng có tác dụng chế sát.
3. Đặt Rùa: Rùa cũng có khả năng chế sát. Có thể đặt rùa đá hay rùa đồng. Rùa là loài biết chịu đựng, gặp nguy thì thu mình vào mai mà không xung sát. Vì vậy đối với những nhà gặp xung sát mạnh (như bị thiên trảm sát, hay bị đao đình chiếu vào cửa chính chẳng hạn) có khi dùng rùa hơn là dùng sư tử, vì rùa hoá sát chứ không đấu chọi. Có thể treo một mai rùa đối diện với góc nhọn xung xạ cũng chế sát tốt.
4. Đặt tượng chó: Có thể là chó đá hay đồng. Tượng chó có tác dụng trấn trạch. Nên đặt ở cạnh cổng hoặc cửa lớn, đầu hướng ra ngoài. Người tuổi Thìn không nên dùng tượng chó vì Thìn Tuất xung nhau.
5. Đặt gà trống: Gà trống có thể dùng để đặt ở cửa khi trước nhà có địa hình giống như con rết (như có con đường hay dòng chảy ngoằn ngoèo), hay trước cửa bếp có ống nước chạy giống như một con rết. Chỉ đặt 1 con, mỏ chĩa ra phía có hình con rết. Người tuổi mèo không dùng tượng này.
6. Đặt voi đồng: Voi hút nước giỏi, nước là Thuỷ, cũng là tiền tài. Trước nhà có biển, sông hoặc ao nước mà trong nhà có đặt một voi đồng thì đại tài, cả nhà được lộc. Đặt voi trông vòi ra phía có nước để thu nước.
7. Treo chuông gió: Nhà trực đối với đường phố có thể đặt một chuông gió kỳ lân trên góc trái cửa ra vào sẽ có tác dụng trừ tà. Vì vậy ngoài các giải pháp dùng án sơn, chậu cảnh như nêu trên, nếu có thêm chuông gió thì càng tốt. Đặt chuông kim loại (thường bằng đồng) thì tốt hơn chuông bằng tre trúc, vì kim sinh Thuỷ (tiền tài). Cửa nhà có gió lùa thì có thể treo chuông gió ở cửa để chế sát. Tác dụng lúc này cũng giống như treo rèm hạt.
8. Treo hồ lô gỗ: Treo 3 hồ lô gỗ trong nhà tại vị trí cung Thiên y (hoặc Sinh khí, Phúc đức) sẽ có thể khiến ngưòi trong nhà khoẻ mạnh, tinh thần thoải mái, nhất là trong nhà có người lâm bệnh lâu dài.
9. Treo đồng tiền cổ: Nếu trước cửa có dấu hiệu xung sát thì treo hai xâu 7 đồng tiền cổ hai bên cửa ra vào sẽ có tác dụng chế sát.
10. Treo quả bầu hình nậm rượi : Quả bầu nậm có hình là 2 chữ s ghép lại. Trong kỹ htuật hiện đại người ta đã thử và thấy rằng những đồ đựng hình quả bầu nậm thì khó xuyên thấu sóng viba. Khi ngâm rượi trong bình hình quả bầu nậm thì rượi chóng ngấu hơn ngâm trong bình khác. Vào những ngày đại lễ hoặc gặp sự chẳng lành người dân Trung Quốc thường treo quả bầu nậm ở trước cửa đê để tránh tà. Trong nhà, ở những cửa sinh gió lùa có thể treo quả bầu nậm để giảm bớt xung khí.
11. Treo chiếc sáo: Trong phòng nếu có dầm hoặc xà kèo nằm ngang phía trên giường ngủ hay nơi phòng khách làm ta có cảm giác bị đè nén. Treo 2 chiếc sáo tại 2 đầu dầm hay xà nhà sẽ có tác dụng hạn chế tình trạng này.

Khi phòng thờ quá nhiều dương khí

 Cân bằng Âm Dương khí là một yêu cầu chung cho mọi nhà, mọi công trình có người ở và làm việc. Nhưng đối với phòng thờ, nhà thờ hay đình làng, đền, chùa… thì vấn đề này lại càng quan trọng.
Theo nhận thức của tác giả, phòng thờ tuy cần có cả khí Âm + Dương, nhưng nếu nhiều Âm khí hơn một chút thì vẫn tốt hơn. Nói vậy có nghĩa là nếu ngược lại, nhiều Dương khí quá thì rất tai hại. Cơ sở của vấn đề này như sau:
Trong phòng thờ hay đền chùa… luôn có Thần linh hay Đức Phật và Gia tiên (sau đây gọi chung là Người âm) ngự. Người âm tồn tại dưới dạng sóng vi tế, là sóng rất thanh nhẹ, mắt thường không nhìn thấy được. Chỉ người khai mở được nhãn thần mới có thể nhìn thấy mà thôi. Khoa học hiện nay đã thừa nhận nhiều người nhờ khai mở nhãn thần đã nhìn thấy Người âm, thậm trí nói chuyện được với họ. Tuy nhiên do tồn tại dưới dạng sóng vi tế, nên Người âm khó tồn tại lâu dưới ánh sáng mặt trời, dưới dạng sóng mạnh. Ta biết trong phổ bức xạ mặt trời có 3 tia thành phần chủ yếu là : tia Cực tím- Tử ngoại (bước sóng nhỏ hơn 0,3 mk, với lượng rất nhỏ), Tia Nhìn thấy (bước sóng 0,3- 0,7 lmk, là thành phần chủ yếu) và tia Hồng ngoại (bước sóng trên 0, 71mk chiếm tỷ lệ cao hơn nhiều tia Cực tím). Có thể nói, so với tia Vi tế thì các tia này “thô” và nặng hơn rất nhiều. Do đó không thích hợp cho Người âm. Khi người trần xây phòng thờ, đền, chùa… thì mong muốn những chốn này được linh thiêng. Vì vậy khi chọn vị trí làm chùa, đình làng, đền… người ta rất coi trọng vị trí có thế đất tốt để thu được vượng khí. Tại sao các chùa đều thờ Phật, mà có chùa lại cảm thấy “thiêng”, có chùa lại kém “thiêng”? Cái đó quyết định ở khả năng tụ khí vũ trụ của nơi làm chùa. Vậy yêu cầu của những nơi thờ cúng là phải tụ khí và có nhiều Âm khí hơn là Dương khí.
Các dấu hiệu của nhà nhiều Dương khí là: nóng, khô và sáng quá. Dấu hiệu của nhiều âm khí là mát, ẩm và tối. Rất tiếc hiện nay nhiều nhà xây phòng thờ trên tầng thượng của nhà thường không chú ý làm mát phòng thờ, ngược lại, để cho mặt trời thiêu đốt suốt ngày nóng bức, lại nhiều cửa sổ nên phòng bị sáng quá. Tất cả những yếu tố đó là không thích hợp với người âm. Vậy phòng thờ sao mà linh thiêng được? Cần phải sửa lại ngay!
Đó là những dấu hiệu của một ngôi chùa có quá nhiều Dương khí, khác hẳn không gian ngôi chùa trước đây. Kết quả là khách đến lễ chùa ít hơn trước đây nhiều.
Như vậy, vấn đề là: Không gian ở những nơi thờ cúng cần phải mát và đủ tối. Làm sao để được như vậy? Giải pháp cụ thể là:
Mái nên lợp ngói ta (hay lợp lá cọ, lợp tấm cỏ Gianh…); Mái lợp tôn hay lợp ngói 22v/m2 thì cần có giải pháp thoát nhiệt cho mái .
Cửa sổ phải đủ nhỏ, không nên lớn hơn 10% diện tích nền phòng;
Tác giả thấy cần nhấn mạnh rằng, khi cải tạo nâng cấp hay trùng tu các nơi thờ cúng thì yếu tố không thể bỏ qua là giải pháp thiết kế phải đảm bảo tạo được không gian mát trong nhà, và phải đủ tối ở mức cần thiết. Nếu tạo được không gian “mát âm” thì rất tốt (xem thêm mục 5.2.9- Nhà mát âm). Đó là điều cẩn phải chủ động kiểm soát được từ khâu thiết kế, trước khi tiến hành thi công sửa chữa công trình.
Lò bếp đặt chưa đúng chỗ
Hai vợ chồng trẻ mới mua một căn hộ chung cư ở Hà Nội, khi dọn đến ở đã sửa lại ban công, quây kính làm thành một phòng bếp. Lò bếp được đặt trên bệ ngay sát kính, thường xuyên có ánh nắng chiếu vào. Phòng bếp lại trông về hướng Tây nên buổi chiều nắng chiếu rất dữ. Khi kéo cửa kính ra lại còn có gió thổi vào. Hướng lò bếp trông về cung xấu, lại đặt gần chậu rửa (vì không gian ban công rất hẹp). Bếp này xét cho cùng, không đạt được một mặt nào, và cũng không tiện dụng vì rất bức bách do quá chật chội.
Quả nhiên ở được vài tháng thì người chồng bị tai nạn ô tô rất nặng, điều trị dài ngày chưa khỏi. Tiếp đến người vợ sau đó ốm đau liên miên, đi khám không phát hiện ra bệnh gì. Sau khi xem nhà, tác giả thấy đây là một căn hộ được hướng, rất thoáng mát, bàn thờ không có vấn đề gì, chỉ có cái bếp là có vấn đề. Tác giả đã hướng dẫn chuyển lại bếp về vị trí bếp cũ của căn hộ, đồng thời đặt lò bếp đúng vị trí và đúng hướng. Sau vài tháng sửa lại bếp, hai vợ chồng đều khỏi bệnh. Từ bấy đến nay cuộc sống bình thường.
Nói đến cái bếp, lại phải kể đến một anh ở TP Hồ Chí Minh: Anh này mua một căn hộ chung cư. ở đã được 2 năm. Anh đã yêu cầu tác giả đến xem nhà để cải tạo sửa chữa, chuẩn bị cưới vợ. Khi xem nhà, tác giả thấy nhà này hoàn toàn không hợp với mệnh chủ, lại không thể bố cục thay đổi lại cho tốt lên được. Vì vậy tác giả có bàn với anh bạn sửa để dùng tạm, rồi bán đi mua cái khác. Khi xem đến cái bếp, thấy lò bếp đặt ngay dưới chân cửa sổ kính rút, lại trông về hướng xấu. Buổi chiều mặt trời phía Tây thường dọi nắng qua kính vào lò bếp. Đặc biệt, do bố cục các nhà xung quanh đã tạo một luồng gió thường xuyên thổi vào cửa sổ bếp. Tác hỏi anh: “Lò bếp để thế này đã bao lâu rồi?” Anh trả lời: “Đã gần 2 năm”. Lại hỏi: “Thế 2 năm qua không xảy ra chuyện gì đặc biệt à?”. Anh bảo không sao. Tuy thế, tác giả vẫn nói với anh rằng anh phải chuyển ngay vị trí lò bếp sang chỗ mà tác giả chọn, và không được chậm trễ ngày nào nữa. Anh bạn tỏ vẻ do dự, vì còn phải đập bệ cũ, xây bệ mới, không dễ gì xong ngay. Tác giả yêu cầu anh đặt tạm lò bếp lên một cái bàn, chứ nhất định không được để ở chỗ cũ. Việc phải làm ngay.
Khi tiễn tác giả ra về, anh bạn mới nói rằng cùng sống với anh ở đây trong 2 năm qua còn có một anh bạn rất thân, chưa vợ, cùng làm một cơ quan. Anh này hàng ngày nấu bếp cho 2 người ăn. Nhưng anh đã chết gần 1 năm nay do một tai nạn lao động rất thảm khốc. Từ đó chủ nhà buồn chán, không bao giờ tự nấu bếp, hàng ngày đi ăn nhà hàng.
Phòng bếp đặt không được hướng
Nhà bếp, hay phòng bếp nếu đặt vào cung xung với chủ nhà, nhất là với bà chủ là người thường nấu bếp thì sẽ rất tai hại. Thí dụ chủ nhà tuổi Tý mà nhà bếp (nhất là lò bếp) lại nằm vào cung Ngọ, hay chủ nhà tuổi Ngọ mà bếp đặt vào cung Tý (Tý Ngọ xung nhau) thì bệnh tật dễ đến. Điều chỉnh trong trường hợp này là nên đổi lại vị trí phòng bếp hay lò bếp.
Lấy thí dụ: Phù Nguyệt Tế, nhà Phong thuỷ người Trung Quốc, đã giải quyết trường hợp phạm hướng bếp cho nhà họ Vương [52]. Khi ở nhà này được một thời gian, bà Vương tính tình hay nóng nảy, đêm ngủ không ngon giấc, rồi dẫn đến bà sống trầm mặc, uống thuốc thần kinh không thấy đỡ. Sau khi xem nhà, thấy vị trí nhà bếp ở vào cung xung với tuổi của bà Vương, Phù Nguyệt Tế chỉ dẫn cho chủ nhà đổi vị trí phòng bếp cùng với một vài giải pháp khác. Quả nhiên chỉ sau chưa đầy 3 tháng bệnh của bà Vương khỏi hẳn.
 Khi nhà bị gió lùa
Nhà bị gió lùa, gây xung lực, nên rất dễ ốm do cảm gió. Cách tốt nhất để Điểu chỉnh là bố trí lại cửa đi và cửa sổ để dẫn dòng khí trong nhà đi theo hình chữ s. Trong điều kiện không thể chuyến cửa được thì có thể dùng phương pháp đơn gián là treo rèm hạt vào các cửa có gió lùa đi qua. Hình 7.26 là một thí dụ: Nhà này là một nhà ống, có các cửa đi thẳng hàng, tạo một một luồng khí xông thẳng vào nhà. Trong trường hợp này nếu ta treo rèm hạt ở các cửa thì sẽ hạn chế được tính xung của Khí. Cụ thể: Khi một dòng khí gập các hạt rèm cửa, Khí sẽ bị phân tán đi quanh các hạt rèm, một phần Tà khí được lọc bớt, phần khác được chẻ ra thành các nhánh nhỏ uốn cong và đi tiếp nên tốc độ đi sẽ nhẹ hơn. Tuỳ theo vị trí các cửa sổ hoặc các lỗ thoáng, Khí có thể đi trong nhà thành hình cong chữ s hoặc z. Hạt rèm có thể làm bằng gỗ, nhựa, trúc có hình cầu hoặc hình trụ. Hình 7.27 là một thí dụ cửa có treo rèm hạt nhựa.

Khi phòng thờ quá nhiều dương khí 1

Tai hại của Tia ánh nước
Các nhà có ao cạnh nhà, hay có bể bơi trong vườn nhà, nếu có ánh nắng chiếu từ mặt nước vào nhà qua cửa đi hay cửa sổ thì có thể làm tổn hại đến sức khoẻ của người sổng trong nhà. Trường hợp này gọi là nạn Tia ánh nước. Tia ánh nước khác ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp vào nhà. Tia ánh nước phản chiếu lay động theo rung động mặt nước, nó có cường độ rất mạnh nén dễ ảnh hướng đến sức khoẻ con người.

Điều chỉnh hướng bàn thờ và hướng lò bếp

Đây là một phương pháp rất nhạy cảm để điều chỉnh trường khí vào nhà khi Hướng nhà gặp Du niên xấu. Điều này có ý nghĩa tích cực trong việc phát triển nhân tài lộc cho người sống trong nhà. Nguyên tắc là hướng bàn thờ và hướng lò bếp phải phối với Mệnh quái chủ nhà để có Du niên tốt. Bàn thờ phải đặt ở cung tốt so với mệnh trạch chủ nhà, còn lò bếp thì đặt ở cung xấu. Ngoài ra, khi Điều chỉnh theo phương pháp này thì cần xem những yêu cầu vể bố trí phòng thờ, bàn thờ, nhà bếp, lò bếp có bị vi phạm gì không. Nếu bị thì phái khắc phục trước khí Điều chỉnh hướng nhà. Thí dụ phòng thờ lại đặt dưới phòng khách, hay áp cạnh nhà vệ sinh, bàn thờ đặt ngay cạnh cửa sổ, hoặc lò bếp đặt trông ra cửa bếp v.v… Khi đó cần khắc phục sao cho vị trí bàn thờ và lò bếp đặt cho đúng yêu cầu, sau đó mới dùng hướng bàn thờ và hướng lò bếp để Điều chỉnh Hướng nhà.
Khi dùng hướng lò bếp để Điều chỉnh hướng nhà thì thường các tài liệu về văn hoá xây dựng phương Đông đều nêu nguyên tắc như sau đây, nhưng không thấy giải thích tại sao:
Hướng nhà lâm Tuyệt mệnh thì đặt lò bếp trông về Thiên y (Thiên y chế Tuyệt mệnh);
Hướng nhà lâm Ngũ quỷ thì đặt lò bếp trông về Sinh khí (Sinh khí giáng Ngũ quỷ);
Hướng nhà lâm Lục sát thì đặt lò bếp trông về Diên niên (Diên niên /Phúc đức yểm Lục sát);
Hướng nhà lâm Hai hoạ thì đặt lò bếp trông về Diên niên; 
  MỘT SỐ THÍ DỤ CỤ THỂ VỂ ĐIỂU CHỈNH ĐÃ ÁP DỤNG
Dưới đây giới thiệu một số trường hợp Điều chỉnh cụ thể để bạn đọc tham khảo. Đây là những thí dụ mà tác giả đã làm, hoặc có thể là những thí dụ sưu tầm trong các tài liệu tham khảo.
1. Nhà ở ngã ba đường phố
Ngôi nhà nằm ở vị trí ngã ba trên đường phố, hoặc ở trực diện cuối ngõ có thể bị dòng khí trên đường (vốn với lượng tà khí lớn) xông thẳng vào nhà. Trong trường hợp nàv có thể dùng một án sơn là một hàng cây thân tròn (Hình 7.19), hay một bức tường chắn xây cong (Hình 7.20), hoặc một bể phun nước để điểu chỉnh dòng khí vào nhà theo đường “khúc”, tạo thành đường Khí chuyển động cong hình chữ s.

Điều chỉnh hướng bàn thờ và hướng lò bếp 1

Đôi với những nhà ở góc phố thì không nên làm nhà sát ra góc phố, mà nên để ra phần đất tam giác góc phô là khu vực cây xanh để tránh tà (Hình 7.21). Cấu tạo hè phô’ rộng cũng là giải pháp cho việc này.
 Nhà đối trực diện với ngõ
Ngôi nhà có ngõ đâm thẳng vào cổng ở tính Bắc Ninh (Hình 7.22), được tác giả gắn Phù hiệu “Nhất thiện” trên trụ cổng cùng với chậu cảnh đặt ở sân, bên ngoài cửa sổ. Dòng khí đi vào nhà khi đó được trừ tà và uốn cong hình chữ s. Chủ nhà ở nhà này gặp thuận lợi, cuộc sống bình thường, kinh tế gia đình phát triển, sinh 2 con, 1 trai 1 gái.

Điều chỉnh hướng bàn thờ và hướng lò bếp 1

 Nhà bị Thiên trảm sát
Ngôi nhà ở Hình 7.23 là ở tỉnh miền Trung VN. Khi tác giả đến thăm nhà đã có nhận xét với chủ nhà: “Nhà ở thế này vợ chồng cãi nhau suốt ngày!”. Nghe thế, cả 2 vợ chồng đểu ngạc nhiên, sao mà đúng thế. Tác giả còn nói rằng nếu các bạn có công ty gia đình thì làm ãn sẽ thất bát, hợp đồng tưởng chừng xong đến nơi, nhưng nó lại bay đi. Hai vợ chồng chủ nhà rất khâm phục nhận xét trên là đúng.

Điều chỉnh hướng bàn thờ và hướng lò bếp 1

 Nhà có cửa phụ đặt ở cung không tốt
Chủ ngôi nhà ở Hà Nội có người con trai cưới vợ đã gần 2 nãm mà không có con. Hai vợ chồng đi khám, được biết không có vấn đề gì. Vậy sao mong mãi không có con? Chú nhà nhờ tác giả xem nhà có vấn đề gì không. Quả nhiên sau khi khảo sát nhà, thấy có cửa phụ trông vào cung Cô quả. Lò bếp cũng trông vào cung Cô quả. Thật là tai hại! Đặc biệt khi xem nhà, tác giả thấy trên tường cạnh cửa phụ này có treo một Phù hiệu. Hỏi ra thì được biết đã có một nhà Phong thuỷ nào đó treo Phù hiệu này từ trước khi người con trai lấy vợ. Như vậy nhà Phong thuỷ này cũng đã thấy cửa phụ lâm Cô quả. Ý đồ đặt Phù hiệu là để khắc phục khiếm khuyết này chăng? Theo nhận thức của tác giả thì Phù hiệu này không đủ công lực để giải được cưng Cô quả của cửa phụ này. Tác giả đã hướng dẫn chú nhà lấp cửa phụ lại, chuyển cửa phụ sang vị trí khác. Đồng thời chuyển vị trí nhà bếp và đật lại lò bếp trông về cung Phúc đức. Quả thật không phụ lòng: sau hơn 1 tháng người con dâu chủ nhà đã có bầu và sau đó sinh một cháu cho ông bà.

 Bàn thờ đặt chưa đúng chỗ
Một Ngân hàng ờ Hà Nội mời tác giả đến xem tại sao kinh doanh thất thường, doanh thu hàng tháng rất thấp, nợ thì khó đòi. Sau khi khảo sát, tác giả nhận thấy cửa chính của nhà Ngân hàng này thích hợp với mệnh của Giám đốc. Tác giả cảm nhận sinh khí vào nhà rất tốt. Tuy nhiên có mấy nhược điểm sau đây:
Bàn thờ tuy được hướng, nhưng đặt sát cửa sổ (Hình 7.25.a); Cửa phòng kinh doanh bị một cột to án ngữ phía trong phòng; Giám đốc ngồi tựa lưng vào góc tường và trông về hướng xấu.

Điều chỉnh hướng bàn thờ và hướng lò bếp 1

Phù hiệu học

Trong kỹ thuật Điều chỉnh nhiều khi dùng đến Phù hiệu, vì vậy ta cần tìm hiểu Phù hiệu học là gì.
Phù hiệu học là lý luận về kỹ thuật điều tiết (thu và truyền dẫn) trường khí bằng các Phù hiệu. Đó là hệ thống truyền dẫn thông tin năng lượng từ vũ trụ tự nhiên đến con người theo nguyên lý “Thiên Nhân tương ínig” (con người và tự nhiên hoà đồng). Phù hiệu không đơn thuần là một bùa chú như nhiều người quan niệm, từ đó hiểu Phù hiệu như là một cái bùa mê tín nhảm nhí, không đáng tin cậy. Thực ra, đây là một tri thức về ứng dụng Phù hiệu vào cuộc sống con người. Phù hiệu học thực chất là kỹ thuật tạo dựng quỹ tích vận động Khí dạng xoắn phục vụ lợi ích cho con người. Có thể nói Khí là linh hồn của Phù hiệu. Vì vậy Phù hiệu còn được gọi là Phù khí. Phù hiệu là sự cụ thê hoá thu nhỏ của mối quan hệ Thiên Địa Nhân. Trong Phù hiệu có năng lượng khí nên nó điều tiết được trường khí trong không gian và trong cơ thể con người. Vì vậy Phù hiệu có thể giúp điều chỉnh môi trường khí trong không gian ở, và có thể chữa được một số bệnh cho người (nhiều khi hiệu nghiệm đáng ngạc nhiên!). Đây là một khoa học và kinh nghiệm của xây dựng nhà của người phương Đông, không phải là việc làm mê tín. Thực tế cho thấy sử dụng Phù hiệu mang lại hiệu quả thiết thực trong việc cải thiện môi trường Khí trong nhà.
Cơ sở của Phù hiệu học là Trường khí xoắn có tính Âm Dương hài hoà, thông qua vòng xoáy trái và phải để thực hiện hiệu ứng trường xoắn vũ trụ. Trường khí này được thanh lọc để tăng Sinh khí, giảm Tà khí trước khi đưa vào môi trường sống của con người. Như vậy Phù hiệu học là một khpa học thu, thanh lọc và truyền dẫn Khí. Đó là cơ sở để dùng Phù hiệu trong kỹ thuật Điều chỉnh trong xây dựng nhà và công trình. Để làm việc này, trong Phù hiệu học người ta sử dụng cả Phù hiệu tự nhiên và Phù hiệu nhân tạo.
 Phù hiệu tự nhiên
Đó là những tồn tại khách quan của tự nhiên, có khá nâng thu phát khí, không phụ thuộc vào con người. Thí dụ sự vận động của cửu tinh (9 hành tinh) trong hệ mặt trời, sự chuyển động của bản thân trái đất quanh mặt trời đã tạo thành trường khí xoắn tác động lên trái đất và con người. Trên trái đất thì những vùng có “Sơn hoàn Thuỷ bão” (núi bao vòng, nước uốn khúc), vùng quanh hồ (như trong một lòng chảo ăng ten viba) là những vùng có khả năng tụ khí. Cây cối trong vùng này luôn xanh tốt. Con người sống trong vùng này thì sẽ khoẻ mạnh, nhân tài lộc phát triển (xem các vùng tụ khí thế hiện trên Hình 2.5 -4- 2.8). Ta biết sự nhấp nhô trùng điệp của núi sông luôn uốn lượn theo hình chữ s. Những chỗ có núi bao vòng như người đưa 2 cánh tay đón lấy, và những đoạn có sông uốn ôm vào là những vùng đất tụ khí rất tốt.
Phù hiệu tự nhiên còn thấy trên động thực vật như vỏ ốc, sên có hình xoắn trái phải, con nhện chăng tơ tạo một chảo ăng ten tụ khí, con chồn bắt mồi bằng cách vẽ vòng tròn nước dãi xung quanh con mồi đế giữ con mồi không chạy được, con ốc bắt con cua cũng bằng một vòng tròn bò quanh con cua v.v… Ở thực vật ta thấy các lá cây thường có mật nhẵn phía trên để nhận khí vũ trụ và mặt dưới ráp để tụ giữ khí, cây bông nớ hoa từ gốc lén ngọn theo vòng xoáy thuận chiều kim đồng hồ, còn cây lúa lại nở hoa từ trên xuống dưới bông theo chiều ngược kim đồng hồ.
 Phù hiệu nhân tạo
Phù hiệu nhân tạo là những Phù hiệu do con người tạo ra. Nguyên lý của những Phù hiệu này là Thiên nhân tương ứng – Con người và vũ trụ hoà đồng. Các loại hình Phù hiệu nhân tạo có thể là: tượng, đá trạm khắc, đồ gốm, đồ đổng, Thái cực đồ, Bát quái đồ, Cửu tinh đồ, giấy vẽ v.v… Mục đích của những Phù hiệu này là tạo dựng một trường khí xoắn hình chữ s tại nơi đặt Phù hiệu. Đây là những mô hình thu nhỏ của Phù hiệu tự nhiên, và có khả năng điều chỉnh trường khí và trừ tà. Vì vậy nó được dùng vào rất nhiều lĩnh vực hoá giải. Ta hãy phân tích một số dạng Phù hiệu nhân tạo.
1) Phù hiệu Tượng: Phù hiệu tượng thường dùng là những tượng hình hnh vật như Long Ly Quy Phượng (Rồng, Lân, Rùa, Phượng hoàng), hoặc hổ, chó V.V.. Các tượng này có thể làm bằng đá, gỗ, đất sét nung, vôi ximãng cát. Các Phù hiệu tứ linh thường được đặt trên mái hoặc tại cửa ra vào đình chùa, vừa là trang trí, vừa điều chỉnh khí vào nhà. Ta hãy quan sát bộ tượng rồng đặt trên mái và bộ tượng rồng đá đặt ở thểm nhà tướng niệm các liệt sỹ Củ Chi (Hình 7.9): Không chỉ là để trang trí, do tương có hình uốn khúc thân rồng, nên sẽ tạo được dòng khí trên mái và thềm vào nhà theo nguyên lý ’khúc hữu tinh’, làm tãng thêm phần sinh khí vào nhà. Người ta cũng có thể đặt hai bén nhà tượng rồng và hổ: bên trái đặt tượng rồng, bên phải tượng hổ (tả thanh long hữu bạch hổ) để điều chỉnh khí, hay đặt tượng chó đá ớ cổng nhà đê trừ tà v.v. Hình 7.10 là một tượng Bạch hổ. Tượng này đặt bên phải cửa nhà, phôi với bê nuôi cá bên trái, tạo thành cặp Tả Thanh long Hữu Bach hổ có tác dụng tụ và điểu tiết Khí.
2) Phù hiệu trạm khắc đá: Thường là các phiến đã khắc rồng mây hoặc các phiến đá khắc chữ. Khi trạm khắc hình và chữ trên đá với tâm ý sẽ dùng để hoá giải việc gì đó thì ý nghĩ của người thợ sẽ tạo được khí lực tụ vào sản phẩm của mình. Còn khi trạm khắc chỉ với tâm ý bán sản phẩm, thì sản phẩm này chí có giá trị điều chỉnh trường khí theo hình trạm khắc mà thôi. Thí dụ sản phẩm đá khắc rồng ở đền Đô Bắc Ninh (Hình 7.11) có thể điều chỉnh dòng khí tác động vào nó theo các đường cong của rồng và mây theo nguyên lý ‘Khúc hữu tinh’. Các Phù hiệu này thường đặt ở các lối ra vào nhà hoặc đình chùa có tác dụng điều chỉnh khí rất mạnh.

Phù hiệu học 1

Phép trấn bàng Phù hiệu
Đó là phép dùng Phù hiệu để trấn an, biến hung thành cát. Mục tiêu của phép trấn bằng Phù hiệu có thể là để thanh lọc khí (như đặt các tượng rồng, phượng trên mái nhà là để thanh lọc bớt tà khí vào nhà), hoặc để trừ tà. Có thể là trấn phương vị hoặc trấn thời gian.
Trấn Phù phương vị là cách đặt Phù hiệu tại một vị trí của nhà, như ở cổng nhà, cửa nhà, đường vào nhà, nóc nhà, góc nhà, hay ở vị trí mà góc nhà khác chọc thẳng vào, hoặc ở những chỗ không hợp lý của nhà v.v… để tránh sát. Có thể dùng các loại Phù hiệu như: Thạch cảm đương, sơn hải trấn, đối tàng (như sư tử, cột hoa biểu), gương, bình phong, bảo hồ lô, thái cực đồ, bát quái đồ, văn tự, các loại cây…
Trấn Phù thời gian là phép dùng Phù hiệu để trấn an trong thời gian nào đó. Thí dụ khi động thổ mà phải ngày xấu thì có thể dùng Phù hiệu văn tụ để trấn, cầu mong biến hung thành cát.