Trình tự tiến hành dự đoán theo quẻ Thể, quẻ Dụng.

Trình tự dự đoán theo các bước sau:
– Bước 1: Lập quẻ Chủ, quẻ Biến và quẻ Hỗ.
– Bước 2: Xem lời quẻ và lời hào của Chu Dịch để dự đoán dữ lành.
– Bước 3: Xác định quẻ Thể, quẻ Dụng và phân tích tương quan ngũ Hành
sinh khắc của các quẻ.
– Bước 4: Xác định ngày ứng nghiệm.
– Bước 5: Phân tích tổng hợp để đưa ra lòi dự đoán.
Sau đây là diễn giải các bước cụ thể:
a) Bước 1: Lập quẻ Chủ, quẻ Biến, quẻ Hỗ
Cách lập quẻ Chủ và quẻ Biến đã nêu cụ thể ở mục 8.2.1. Cách lập quẻ Hỗ nêu ở mục 8.4.2.
b) Bước 2: Xem lời quẻ và lời hào
Cần xem lời quẻ Chủ và quẻ Biến và lòi hào của hào động trong quẻ Chủ ghi trong sách Chu Dịch. Qua các lời quẻ và lời hào ta có thể định hướng tổng thể chiêm đoán dữ lành. Nếu lời cát thì sẽ đại cát. Nếu lời hung thì có thể sẽ đại hung. Nếu có điềm lành, lại có điềm dữ thì phải nghiên cứu kỹ lời quẻ, lời hào và quan hệ sinh khắc của tượng quẻ.
a) Bước 3: Xác định quẻ Thể, quẻ Dụng và phân tích tương quan ngũ Hành sinh khắc của các quẻ.
Đây là bước quan trọng nhất của quá trình dự đoán. Đầu tiên phải xác định đúng quẻ Thể và quẻ Dụng trong trùng quái Chủ theo nguyên tắc: Quẻ có hào động là quẻ Dụng, không có hào động là quẻ Thể. Đối với trùng quái không có hào động hoặc cả qué trên và quẻ dưới đểu có hào động thì lấy quẻ có hào Thế làm quẻ Thể, Quẻ có hào úng làm quẻ Dụng.
Tiếp theo cần phân tích kỹ quan hệ ngũ Hành tương sinh tương khắc của quẻ Dụng, quẻ Chủ, quẻ Hỗ đối với quẻ Thể. Tính tốt xấu trong quan hệ Dụng Thể .Khi xem gia trạch thì lấy quẻ Dụng là nhà, quẻ Thể là người (chủ nhà) đê xem xét. Đê đánh giá mức độ sinh khắc giữa các quẻ cần quan tàm đến tính suy vượng khí nêu trong Bảng Quẻ vượng thì có thể sinh khắc quẻ suy. Ngược lại quẻ suy không thể sinh khắc quẻ vượng, hoặc có sinh khắc thì mức độ cũng rất hạn chế, chỉ là kỵ huý mà thôi. Lại còn phải xem sinh khắc này là thực hay giả. Điều quan trọng là phải xem có quẻ khắc Thê không. Nếu không có khắc Thể thì chiêm đoán chắc là tốt đẹp. Còn nếu có khắc Thể thì phải xem có cứu hay không. Nếu có khắc Thể mà không có cứu thì chắc chắn là kết quả chiêm đoán sẽ xấu. Thí dụ: xem người bệnh mà Càn là quẻ Thể thì phải xem trong quẻ có Ly và có Khôn hay không. Nếu có Ly Hoả mà không có Khôn Thổ đê sinh cho Kim Càn thì chỉ có Hoả khắc Kim, người bệnh chắc chắn là chết vào ngày Tị, Ngọ (Hoả). Nếu trong quẻ không có quẻ sinh Thể, cũng không có quẻ khắc Thê’ thì cãn cứ vào quẻ gốc mà suy luận. Khi có hào động thì xem lời hào động trong quẻ Chủ để đoán. Khi không cố hào động thì lấy tượng quẻ để đoán.
Có 3 loại hình tương quan ngũ Hành của Thể Dụng. Đó là:
Tương sinh: Bao gồm Sinh nhập, là Dụng sinh Thể (tức Thể được bồi bổ thêm- rất tốt). Và Sinh xuất, tức Thể sinh Dụng (Thể bị tiết khí)- xấu hoặc không tốt lắm.
Tương khắc\ Gồm có Khắc nhập, là Dụng khắc Thể- Thể bị kìm hãm- Rất xấu. Và Khắc xuất, Thể khắc Dụng- Thể bị tổn sức- không tốt nhưng không xấu lắm. Trong trường hợp này thì Thể không có sự hỗ trợ.
Tỷ hoà: Tức là Thể Dụng cùng một Hành, nghĩa là Thể được bồi bổ thêm- rất tốt.
Khi phân tích tương quan sinh khắc giữa các quẻ, có thể tham khảo kinh nghiệm tiên đoán về thể sinh khắc của các quẻ nêu trong Bảng 8.9

 Trình tự tiến hành dự đoán theo quẻ Thể, quẻ Dụng. 1

 Trình tự tiến hành dự đoán theo quẻ Thể, quẻ Dụng. 1

Xem thêm: Ban nha Ha Noi co hinh anh