Trình tự tiến hành dự đoán theo quẻ Thể, quẻ Dụng.

Trình tự dự đoán theo các bước sau:
– Bước 1: Lập quẻ Chủ, quẻ Biến và quẻ Hỗ.
– Bước 2: Xem lời quẻ và lời hào của Chu Dịch để dự đoán dữ lành.
– Bước 3: Xác định quẻ Thể, quẻ Dụng và phân tích tương quan ngũ Hành
sinh khắc của các quẻ.
– Bước 4: Xác định ngày ứng nghiệm.
– Bước 5: Phân tích tổng hợp để đưa ra lòi dự đoán.
Sau đây là diễn giải các bước cụ thể:
a) Bước 1: Lập quẻ Chủ, quẻ Biến, quẻ Hỗ
Cách lập quẻ Chủ và quẻ Biến đã nêu cụ thể ở mục 8.2.1. Cách lập quẻ Hỗ nêu ở mục 8.4.2.
b) Bước 2: Xem lời quẻ và lời hào
Cần xem lời quẻ Chủ và quẻ Biến và lòi hào của hào động trong quẻ Chủ ghi trong sách Chu Dịch. Qua các lời quẻ và lời hào ta có thể định hướng tổng thể chiêm đoán dữ lành. Nếu lời cát thì sẽ đại cát. Nếu lời hung thì có thể sẽ đại hung. Nếu có điềm lành, lại có điềm dữ thì phải nghiên cứu kỹ lời quẻ, lời hào và quan hệ sinh khắc của tượng quẻ.
a) Bước 3: Xác định quẻ Thể, quẻ Dụng và phân tích tương quan ngũ Hành sinh khắc của các quẻ.
Đây là bước quan trọng nhất của quá trình dự đoán. Đầu tiên phải xác định đúng quẻ Thể và quẻ Dụng trong trùng quái Chủ theo nguyên tắc: Quẻ có hào động là quẻ Dụng, không có hào động là quẻ Thể. Đối với trùng quái không có hào động hoặc cả qué trên và quẻ dưới đểu có hào động thì lấy quẻ có hào Thế làm quẻ Thể, Quẻ có hào úng làm quẻ Dụng.
Tiếp theo cần phân tích kỹ quan hệ ngũ Hành tương sinh tương khắc của quẻ Dụng, quẻ Chủ, quẻ Hỗ đối với quẻ Thể. Tính tốt xấu trong quan hệ Dụng Thể .Khi xem gia trạch thì lấy quẻ Dụng là nhà, quẻ Thể là người (chủ nhà) đê xem xét. Đê đánh giá mức độ sinh khắc giữa các quẻ cần quan tàm đến tính suy vượng khí nêu trong Bảng Quẻ vượng thì có thể sinh khắc quẻ suy. Ngược lại quẻ suy không thể sinh khắc quẻ vượng, hoặc có sinh khắc thì mức độ cũng rất hạn chế, chỉ là kỵ huý mà thôi. Lại còn phải xem sinh khắc này là thực hay giả. Điều quan trọng là phải xem có quẻ khắc Thê không. Nếu không có khắc Thể thì chiêm đoán chắc là tốt đẹp. Còn nếu có khắc Thể thì phải xem có cứu hay không. Nếu có khắc Thể mà không có cứu thì chắc chắn là kết quả chiêm đoán sẽ xấu. Thí dụ: xem người bệnh mà Càn là quẻ Thể thì phải xem trong quẻ có Ly và có Khôn hay không. Nếu có Ly Hoả mà không có Khôn Thổ đê sinh cho Kim Càn thì chỉ có Hoả khắc Kim, người bệnh chắc chắn là chết vào ngày Tị, Ngọ (Hoả). Nếu trong quẻ không có quẻ sinh Thể, cũng không có quẻ khắc Thê’ thì cãn cứ vào quẻ gốc mà suy luận. Khi có hào động thì xem lời hào động trong quẻ Chủ để đoán. Khi không cố hào động thì lấy tượng quẻ để đoán.
Có 3 loại hình tương quan ngũ Hành của Thể Dụng. Đó là:
Tương sinh: Bao gồm Sinh nhập, là Dụng sinh Thể (tức Thể được bồi bổ thêm- rất tốt). Và Sinh xuất, tức Thể sinh Dụng (Thể bị tiết khí)- xấu hoặc không tốt lắm.
Tương khắc\ Gồm có Khắc nhập, là Dụng khắc Thể- Thể bị kìm hãm- Rất xấu. Và Khắc xuất, Thể khắc Dụng- Thể bị tổn sức- không tốt nhưng không xấu lắm. Trong trường hợp này thì Thể không có sự hỗ trợ.
Tỷ hoà: Tức là Thể Dụng cùng một Hành, nghĩa là Thể được bồi bổ thêm- rất tốt.
Khi phân tích tương quan sinh khắc giữa các quẻ, có thể tham khảo kinh nghiệm tiên đoán về thể sinh khắc của các quẻ nêu trong Bảng 8.9

 Trình tự tiến hành dự đoán theo quẻ Thể, quẻ Dụng. 1

 Trình tự tiến hành dự đoán theo quẻ Thể, quẻ Dụng. 1

Xem thêm: Ban nha Ha Noi co hinh anh

Mục đích của dự đoán nhà

Dùng quẻ dịch đế dự đoán những vấn đề sau đây của nhà:
– Nhà mới làm xong, xem ở vể sau sẽ tốt xấu thế nào;
– Nhà sửa xong, xem ở về sau sẽ tốt xấu thế nào;
– Nhà đang ở liệu có vấn đề gì không;
– Xem dự kiến mua hoặc thuê một ngôi nhà hay một căn hộ đã chọn thì ớ có tốt không;
– Xem định mua một miếng đất nào đó để xây nhà ở thì có tốt không;
– Xem ngày đã chọn để khởi công xây dựng nhà, hay ngày nhập trạch vể nhà mới, hay ngày ký hợp đồng mua hay thuê nhà thì có tốt không.
– v.v…
Để có được lời dự đoán cần phân tích số của quẻ, ngũ hành sinh khắc giữa các quẻ và các hào, và phải có lập luận nữa (tức là phải có lý nữa).
 Phân tích mức tốt xấu của hướng nhà so với mệnh chủ nhà
Có 8 Du niên, trong đó có 4 tốt (Sinh khí, Thiên y, Diên niên, Phục vị), và 4 xấu (Hại hoạ, Lục sát, Ngũ quỷ, Tuyệt mệnh). Hướng nhà cần phối vói mệnh chủ sao cho được một trong 4 du niên tốt. Muốn vậy thì chú nhà thuộc Đông tứ mệnh phải có hướng nhà nằm ở Đông tứ trạch, thuộc Tây tứ mệnh thì hướng nhà phải nằm ở Tây tứ trạch. Dựa trên mức độ đáp ứng yêu cầu này, ta có thể biết một cách tống quát về tính tốt xấu khi sống trong ngôi nhà. Tuy nhiên, đây cũng chỉ mới là những dự đoán mang tính tổng quát nhất, dựa trên những nguyên tắc tương hợp giữa hướng nhà với mệnh chủ, chưa thể đi sâu phân tích chi tiết được. Muốn phân tích sâu về ngôi nhà thì cần phải lập trùng quái và phân tích kỹ từng hào. Một khi biết được tống quát tính tốt xấu của nhà, trên cơ sở Hướng nhà phối với mệnh chủ nhà, cũng giúp ta điều chỉnh thiết kế cho thích hợp hơn. Khi không đáp ứng được tính tương hợp giữa hướng nhà và mệnh quái chủ thì có thể phải dùng phép hoá giải ngay từ khâu thiết kế công trình.
1. Lập trùng quái theo hướng nhà và mệnh quái chủ nhà
Nguyên tắc lập trùng quái ở đây là: Lấy hướng nhà thuộc quái nào trong Hậu thiên bát quái để làm quái Hạ. Còn mệnh quái chủ nhà (xem mục 1.8) làm quái Thượng. (Khi dự đoán về nhà thì lấy quái Hạ là nhà, quái Thượng là người, hào 2 là nhà, hào 5 là người). Như vậy ta có tất cả 8 hướng nhà X 8 mệnh quái chủ = 64 trùng quái. Quái Hướng nhà luôn bao gồm cả 3 cung nhỏ mà nó quản. Thí dụ: Quái Càn gồm 3 cung Tuất Càn Hợi; quái Tốn gồm 3 cung Thìn Tốn TỊ. Các quái khác cũng vậy. Khi đặt cửa chính thì cố gắng đặt vào cung nhỏ tốt (cung có chấm đen trong bản đồ trạch quẻ ở Phụ lục 3).
2. Phản tích mức tốt xấu
Mức tốt xấu của nhà trong mỗi trùng quái được nêu trong Bảng PL 8 ở Phụ lục 8. Đây là những tổng kết của các nhà Phong thuỷ, đã được nhiều tài liệu về Phong thuỷ nêu lên . Cũng không thấy các tài liệu phân tích cơ sở phương pháp luận của những tính tốt xấu này. Những phân tích tính tốt xấu này cũng chỉ mang tính điển hình, không thể chi tiết cho từng ngôi nhà, vì tính tốt xấu của ngôi nhà không chỉ ở Hướng nhà (hướng cửa chính), mà còn ở hướng cổng, hướng bàn thờ, hướng lò bếp, hướng cửa phụ, trường khí quanh nhà v.v…

Dự đoán theo tượng quẻ (quẻ Thể và quẻ Dụng)
/. Thế nào là quẻ Thể, quẻ Dụng
Trong một trùng quái gồm 6 hào, ghép lại từ 2 quẻ đơn là quẻ Thượng (quẻ Ngoại) và quẻ Hạ (quẻ Nội). Quẻ đơn nào có chứa hào động gọi là Quẻ Dụng. Quẻ đơn không có hào động gọi là Quẻ Thể. Khi cả quẻ Thượng và Hạ đểu có hào động, hoặc đều không có hào động thì lấy quẻ có hào Thế làm quẻ Thể, quẻ có hào úng làm quẻ Dụng.
– Quẻ Thể là mình, quẻ Dụng là người hoặc sự việc.
– Khi xem gia trạch thì lấy quẻ Dụng là nhà, quẻ Thể là người (chủ nhà) đê dự đoán.
– Trong chiêm đoán lấy quẻ Thế làm quẻ chủ, các quẻ khác (quẻ Dụng, quẻ Hỗ, quẻ Biến) làm quẻ ứng.
2. Tốt xấu của Thể Dụng
Quẻ Thể phải vượng mới tốt. Khí của quẻ Thể suy đều là không cát lợi. Quẻ khắc Thể phải suy mới tốt. Quẻ Dụng, quẻ Hỗ, quẻ Biến thừa vượng đều là cát lợi, nhưng không được khắc quẻ Thể, nếu khắc thì nguy hại. Nếu trong các trùng quái có quẻ sinh Thể thì dù quẻ Thể có suy yếu cũng không nguy hại lắm. Ngược lại, khi quẻ trong quẻ ngoài không có quẻ sinh Thể thì dù quẻ Thể có vượng cũng không cát lợi. Tính vượng suy của mỗi quẻ được căn cứ vào mùa và tháng xem quẻ (xem mục 8.3.2 và bảng 8.7).
Quan hệ sinh khắc Thể Dụng như sau:
+ Thể khắc Dụng thì việc lanh lợi.
+ Dụng khắc Thể thì việc bất lợi + Dụng sinh Thể thì việc thuận lợi.
+ Thể sinh Dụng thì việc chưa chắc đã lanh lợi.
– Dụng Thể tỷ hoà (đồng Hành với nhau) thì việc thường là thuận lợi.
Không có quẻ khắc Thể thì việc chắc sẽ thành công.
Khi xem nhà (ở có tốt không):
Coi Thể là chủ, Dụng là nhà
– Thể khắc Dụng thì nhà đó ở tốt, may mắn.
– Thể sinh Dụng thì tài sản kém sút dần (bị tiết khí).
– Dụng khắc Thể thì nhà không dễ ở, nhiều hiểm nguy.
– Dụng sinh Thể thì nhà hưng vượng dần.
– Thể Dụng ngang hoà thì bình thường yên ổn.
3. Quẻ Chủ, quẻ Biến, quẻ Hỗ
Quẻ Chủ là quẻ lập lên ban đầu, gọi là quẻ gốc, biểu thị công việc ở giai đoạn đầu.
Quẻ Biến là do quẻ Chủ có hào động biến mà thành, biểu thị công việc ở giai đoạn cuối.
Quẻ Hỗ là quẻ lập từ việc chọn lựa các hào trong quẻ chủ theo một nguyên tắc quy định, biểu thị thời khắc của công việc (giai đoạn giữa).
Thí dụ: Khi xem việc hỷ mà có quẻ sinh Thể thì chắc chắn sẽ thành công. Không có quẻ khắc Thể cũng có thể thành công được. Nếu được quẻ sinh Thể là quẻ Dụng thì việc hỷ thành công ngay. Nếu quẻ sinh Thể là quẻ Hỗ thì việc thành công sẽ chầm chậm. Còn nếu quẻ sinh Thể là quẻ Biến thì việc thành công sẽ hơi muộn. Còn nếu gặp Dụng khắc Thể thì chắc là khó thành công. Nếu quẻ Biến khắc quẻ Thể thì đám hỷ cuối cùng cũng không thành công.
– Trong chiêm đoán lấy quẻ Thể làm quẻ chủ, quẻ Dụng, quẻ Biến, quẻ Hỗ làm quẻ ứng. Quẻ Dụng quan trọng nhất, sau đó là quẻ Hỗ, cuối cùng là quẻ Biến. Quẻ Hỗ chia ra quẻ Hỗ của quẻ Thể và quẻ Hỗ của quẻ Dụng. Nếu quẻ Thể ở dưới thì quẻ Hỗ ở dưới là quẻ Hỗ của quẻ Thể. Khi đó quẻ Hỗ ở trên là của quẻ Dụng. Quẻ Hỗ của quẻ Thể là rất quan trọng, quẻ Hỗ của quẻ Dụng chỉ là thứ yếu của quẻ Hỗ của quẻ Thể mà thôi. Quẻ Biến cũng vậy.
Cách lập quẻ Hỗ như sau:
Lấy hào 2, 3, 4 của quẻ Chủ lập thành quẻ Hạ (Hạ quái).
Lấy hào 3, 4, 5 của quẻ Chủ lập thành quẻ Thượng (Thượng quái).

 Mục đích của dự đoán nhà 1

Xem thêm: Bán nhà Hà Nội có sổ đỏ

Nhũng yếu tố hỗ trợ dự đoán

Sao Quý nhân
Quý nhân, còn gọi là Thiên ất quý nhân, là hào có Chi tương ứng với Can của ngày dự đoán. Cụ thê như sau:

Nhũng yếu tố hỗ trợ dự đoán  1

Quý nhân thường xem cho hào Dụng thần, Thế. Thí dụ: Dự đoán vào ngày Ât, Ký mà Dụng thần là Tý hoặc Thân thì Dụng thần là có Quý nhân. Nguyên thần là Tý, Thân thì Dụng thần cũng gọi là có Quý nhân. Khi có Quý nhân thì dự đoán sẽ tốt lên, nếu sự việc xâu thì cũng đỡ xấu đi. Nếu Quý nhân là hào Kỵ thần thì dự đoán sẽ xấu hơn.
Sao Mã
Sao Mã thường dùng xem người xuất hành hoặc người đi xa.
Sao Mã dược quy định như sau:
Dự đoán ngày Thân, Tý, Thìn – Sao Mã ở Dần.
Dần, Ngọ, Tuất – — Thìn.
Tị, Dậu, Sửu – Hợi.
— Hợi, Mão, Mùi – — Tị
Đi công tác xa mà có sao Mã ở hào Dụng thần, Thế thì tốt.
Sao Đào hoa
Đào hoa tốt cho việc hôn nhân, cầu tài lộc. Dụng thần vượng gặp Đào hoa thì sự việc sẽ tốt. Đào hoa được quy định như sau:
Dự đoán ngày Dần, Ngọ, Tuất- Đào hoa ở Mão.
Tị5 Dậu, Sửu – Ngọ.
Thân, Tý, Thìn – – — Dậu.
Hợi, Mão, Mùi Tý
Sao Hoa cái
Sao Hoa cái được quy định như sau:
Dự đoán ngày Dần, Ngọ, Tuất – Hoa cái ở Tuất.
— — Tị, Dậu, Sửu Sửu.
— Thân, Tý, Thìn – Thìn.
Hợi, Mão, Mùi – Mùi.
Nếu Dụng thần, Thế gập Hoa cái thì sự việc được giúp đỡ. Nếu xem về người thì là người tu hành.
 Quái Thân và hào Thân
Quái Thân và hào Thân trợ giúp cho Thế (T) và Dụng thần (DT) theo nghuyên tắc
sau đây:
Hào T, DT tốt: quái Thân và Thân hào tốt thì độ tốt tăng lên;
Hào T, DT tốt: quái Thân và hào Thân xấu thì độ tốt giảp đi;
Hào T, DT xấu: quái Thân và hào Thân tốt thì độ xấu giảm đi;
Quái Thân là tính cho cả quẻ, hào Thân chỉ tính cho hào đó.
Cách tìm quái Thân:
– Tim quái Thân căn cứ vào tính chất Âm Dương của hào Thế (T)
– Hào T Dương thì chi Tý dặt tại hào sơ (hào 1)
– Hào T Âm thì chi Ngọ đặt tại hào sơ.
Tính thuận các Chi Tý, Sửu, Dần Mão… từ hào 1 đi lên, đến hào T thì dừng. Quái nào có hào chùng tên Chi vừa đến ở hào T thì gọi quái đó là quái Thân.
Thí dụ: Ta có trùng quái Trạch Hoả Cách gồm quái Thượng là Đoài, quái Hạ là Ly. An các lục thân hào và tìm quái Thân ta có như sau:

Nhũng yếu tố hỗ trợ dự đoán  1

Vì hào T Dương, nên đặt chi Tý tại hào sơ. Ta tính từ dưới lên: Tý, Sửu, Dần, Mão, gặp hào T thì dừng lại. Ta thấy hào sơ thuộc quả Ly có chi Mão cùng Chi với Chi Mão vừa đến hào T, nên quẻ Ly là quái Thân.
Cách tìm hào Thân:

Nhũng yếu tố hỗ trợ dự đoán  1

Xem thêm: Bán nhà Hà Nội dưới 1 tỷ

Những nguyên tắc sinh khắc cần nắm khi dự đoán

Nhất sinh khắc hợp phá
Nhật (ngày dự đoán) là yếu tố mạnh trong dự đoán. Nhật kiến là ngày lập quái dự đoán. Hào được Nhật sinh thì trở lên vượng, các hào khác không xung phá hại được nó. (Hào vượng là hào được Nhật Nguyệt sinh hợp kiến. Còn vượng đến mức nào thì phải xem tình huống cụ thể cua hào đó).
Hào động mà được Nhật sinh hoặc hợp thì khắc chế được hào khắc. Hào tĩnh vượng mà được Nhật xung thì thành hào ám động (mạnh gần như hào động).
Dụng thần suy yếu hoặc bị hưu tù mà được Nhật sinh, kiến là có cứu.
Kỵ thần hợp Nhật thì Dụng thần nguy hại. Nhật sinh, kiến Nguyên thần thì Dụng thần gặp thuận lợi.
Hào được Nhật sinh thì có bị Nguyệt xung khắc cũng không bị thương, bị hào động khắc cũng không bị tổn thương, hoặc có biến hoá khắc cũng không xấu.
Hào được Nguyệt sinh, nhưng Nhật khắc thì vẫn suy yếu. Phải có thêm một yếu tố khác sinh cho thì mới khắc phục được Nhật khắc.
Dụng thần bị Nhật Nguyệt hào động khắc là thân cô thế cô, việc sẽ rất xấu.
Dụng thần, Thế lâm Không vong mà được Nhật xung thì mất Không vong. Mùa xung cũng mất Không vong.
Chú ý: Hào hợp Nhật (nhất là hào DT, T) thì phải chờ ngày xung Nhật hoặc xung hào ấy thì mới ứng nghiệm. (Bệnh khỏi: đến ngày xung mới khỏi. Bệnh chết: đến ngày xung mới chết).
Hào bị Nhật phá là hào tĩnh không vượng hoặc bị tuần không mà có địa chi xung với địa chi của Nhật. Hào bị Nhật phá thì xấu.
Nguyệt sinh khắc phá
Nguyệt (tháng dự đoán) là yếu tố không mạnh bằng Nhật trong dự đoán, nhưng cũng góp phần chi phối tính tốt xấu trong dự đoán, nhất là dự đoán trong thời gian của tháng. Thí dụ: Xem người ốm mà Dụng thần bị Nguyệt phá thì sẽ nguy nan trong tháng đó. Ra khỏi tháng đó thì mới hết bị Nguyệt phá. Hoặc đến ngày hợp thì cũng không còn bị phá.
Nguyệt kiến tức là Chi tháng sẽ chi phối trong tháng đó. Nguyệt kiến có thể trợ giúp hào suy bằng sinh hợp để biến suy thành vượng. Khi dự đoán mà ứng nghiệm chậm thì tính theo tháng.
Dụng thần đựoc Nguyệt sinh, nhưng Nhật phá thì cũng chỉ được dưới trung bình. Nếu được Nhật sinh nhưng Nguyệt phá thì cũng chỉ được mức trung bình.
Hào đựoc Nguyệt sinh hợp thì tốt, ngược lại bị Nguyệt khắc, phá thì không tốt.
Kỵ thần bị Nguyệt phá thì không khắc được Dụng thần.
Căn cứ vào Nguyệt kiến để biết được hào đó là vượng hay không.
Hào bị Nguyệt phá là hào có Chi xung với Chi của tháng dự đoán. Cụ thể:
– Tháng giêng kiến Dần, hào Thân bị Nguyệt phá
– Tháng 2 Mão, hào Dậu
– Tháng 3 — Thìn, hào Tuất
– Tháng 4 Tị, hào Hợi
– Tháng 5 kiến Ngọ, hào Tý
– Tháng 6 kiến Mùi, hào Sửu –
– Tháng 7 kiến Thân, hào Dần
– Tháng 8 kiến Dậu, hào Mão
– Tháng 9 kiến Tuất, hào Thìn
– Tháng 10 kiến Hợi, hào Tị
– Tháng 11 kiến Tý, hào Ngọ
– Tháng 12 kiến Sửu, hào Mùi
Chú thích: Tháng ở đây tính theo Tiết khí (xem Bảng 6.3).
3. Hào động sinh khắc xung hợp
Trong dự đoán, hào động có sức mạnh lớn, nên có ý nghĩa rất quan trọng, “Thần cơ tại động hào”. Nó có thể sinh, khắc, xung, hợp với tất cả các hào trong quái chủ. Hào ở quái biến chỉ có thể sinh, khắc, xung, hợp với hào tương ứng ở quái chủ mà thôi.
Hào ám động (hào tĩnh vượng được Nhật xung) có sức mạnh như hào động.
Vượng thắng suy. Nhưng khi hào vượng tĩnh mà hào suy động biến, lại có sinh phù, thì vượng không thắng được.
2. Tam hợp
Có 4 Tam hợp cục thường dùng trong dự đoán. Đó là:
– Tị Dậu Sửu (Kim cục)
– Hợi Mão Mùi (Mộc cục)
– Thân Tý Thìn (Thuỷ cục)
– Dần Ngọ Tuất (Hoả cục).
Cần có đủ 3 Địa Chi để tạo thành một Tam hợp. Cụ thể cần phải có một trong các điểu kiện sau đây:
– 3 hào trong trong quẻ chủ có 3 Chi tạo thành một Tam hợp.
– 1 hào trong quả chủ và Nhật Nguyệt tạo thành một Tam hợp
– 2 hào trong quẻ chủ với Nhật hoặc Nguyệt tạo thành một Tam hợp.
Tam hợp cục sinh cho DT, T thì tốt, sinh cho Ư thì ta bị thiệt.
Kỵ thần hợp cục thì Dụng thần bị nguy hại.
3. Nhị hợp
Các hào sau đây gọi là Nhị hợp:
– Hào tĩnh hay động hợp với Nhật hoặc Nguyệt. Khi đó hào này sẽ trở thành vượng tướng. Thí dụ trong quái có hào Mão mà dự đoán vào ngày Tuất hay tháng Tuất thì hào này gọi là nhị hợp (Mão hợp Tuất).
– Hai hào động có Chi hợp.
– Hào động hợp với hào do nó biến ra.
Gặp nhị hợp là gặp sinh phù, còn có thể hoá giải được tưcng khắc. Thí dụ hào Mão Mộc động biến sang Tuất Thổ là được nhị hợp. Khi đó có thể hoá giải Mộc khắc Thổ.
4. Hào có cứu
Một hào bị một hào vượng khác khắc, nhưng lại có một hào động sinh cho (hoặc khắc chế hào khắc đó) thì hào này gọi là có cứu. Hoặc hào bị Nhật khắc, nhưng lại được một hào động sinh cho thì cũng gọi là hào có cứu. Có cứu tức là đỡ xấu đi.
5. Bàn về hào Nguyên thần
Nguyên thần là hào sinh Dụng thần. Nhưng không phải lúc nào cũng sinh được cho Dụng thần.
a) Nguyên thần sinh được cho Dụng thần khi:
Nguyên thần lâm Trường sinh, Đế vượng, Nhật kiến;
Nguyên thần động hoá tiến thần hoặc hoá hồi đầu sinh (hoá sinh trở lại);
Nguyên thần lâm Nhật kiến, Nguyệt kiến;
Nguyên thần lâm Nhật Nguyệt lại là hào động;
Nguyên thần và Kỵ thần cùng động(khi đó Kỵ thần sinh Nguyên thần để Nguyên thần sinh Dụng thần).
Nguyên thần vượng động mà lâm tuần không hoặc hoá không, vì động thì không còn tuần không nữa, nhưng phải sau xuất không mới ứng nghiệm.
b) Nguyên thần không sinh được Dụng thần khi:
Nguyên thần hưu tù lại gặp Tuyệt địa;
Nguyên thần hưu tù lại gặp tuần không, nguyệt phá;
Nguyên thần hưu tù không động, hoặc động biến thành Tuyệt, động hồi đầu khấc;
Nguyên thần động mà hoá thoái thần;
Nguyên thần động mà hoá phá, hoá tán;
Nguyên thần lâm tam mộ.
6. Bàn vê hào Kỵ thần
Kỵ thần là hào khắc Dụng thần. Nhưng cũng không phải lúc nào cũng khắc được Dụng thần. Có lúc khắc được, có lúc không.
a) Kỵ thần khắc được Dụng thần khi:
Kỵ than vượng tướng lâm Nguyệt kiến, Nhật hợp;
Kỵ thần vượng động mà lâm không hoặc hoá không;
Kỵ thần động mà lâm Nguyệt, được Nhật sinh phù;
Kỵ thần động hồi đầu sinh hoặc hoá tiến thần;
Kỵ thần và Cừu thần cùng động (khi đó Cừu thần sinh Kỵ thần để Kỵ thần khắc Dụng thần);
– Kỵ thần là Trường sinh, Đế vượng.
b) Kỵ thần không khắc được Dụng thần khi:
Kỵ thần hưu tù lại lâm Tuyệt;
Kỵ thần động hoá thoái thần;
Kỵ thần hưu tù lại cùng bị Nhật Nguyệt khắc;
Kỵ thần động mà hoá phá hoá tán;
Kỵ thần tĩnh mà lâm không vong, bị phá;
Kỵ thần động mà nhập mộ.
Tuy nhiên khi qua các thời điểm trên, Kỵ thần vượng lên thì lại khắc được Dụng thần.
7. Bàn vê nhập mộ
Có 3 cách nhập mộ: Dụng thần nhập mộ; động mà nhập mộ; động mà hoá mộ. Dụng thần không nên nhập mộ. Kỵ thần nhập mộ thì tốt.
Dụng thần nhập mộ thì phải chờ đền ngày xung mộ mới có ứng nghiệm;
Dụng thần vượng mà gập tuần không, phá thì phải chờ đến lúc xuất không việc mới ứng nghiệm.
Dụng thần trùng lặp hoặc thái quá thì nên bị khắc hoặc bị mộ thì sự việc mới thuận lợi. Thí dụ Thổ là Dụng thần, lại gặp Thổ của Thìn Tuất Sửu Mùi là Dụng thần trùng lặp thái quá. Phải chờ có Dần Mão Mộc khắc mới ứng nghiệm.
10. Tham sinh quên khắc
Trong dự đoán, khi một hào nào đó Xung, khắc, hình, hại Dụng thần, Thế mà được một hào khác sinh hợp thì nó sẽ tham sinh mà quên khắc hình xung hại DT, T. Có thể nêu mấy thí dụ:
– DT Sửu Thổ.
Hào động Dần Mộc khắc DT (Mộc khắc Thổ).
Nhưng Dần Mộc động biến sang Tý Thuỷ. Khi đó Thuỷ sinh Mộc. Hào động Dần Mộc tham sinh nên không khắc DT nữa.
– DTTỊHoả.
Hào Hợi Thuỷ động biến, khắc DT (Thuỷ khắc Hoả).
Thêm hào Mão Mộc cùng động biến.
Khi đó hào Hợi Thuỷ mải sinh Mão Mộc để Mão Mộc sinh DT Tị Hoả. Khi đó Hợi Thuỷ không khắc DT Tị Hoả nữa.
– DT Thân Kim
Hào Hợi Thuỷ động biến.
Khi đó Hợi hình Thân, nhưng có Kim sinh Thuỷ nên hết hình.
– DT Dậu Kim.
Nguyên thần Thìn Thổ.
Ta có Thìn Thìn hình. Nhưng vì Thìn hợp Dậu nên hết hình. Ở đây gọi là hợp hình.
– DT Tuất Thổ.
Kỵ thần Mão Mộc.
Ta có Mộc khắc Thổ. Nhưng vì Mão hợp Tuất nên không khắc nữa. Ta gọi là hợp khắc.

Xem thêm: Bán nhà Hà Nội có sổ đỏ

Những yếu tố dùng để phân tích quẻ dịch

Những yếu tố dùng để phân tích quẻ dịch :

Sinh Vượng Mộ Tuyệt
Vòng trường sinh của vạn vật có 12 bước sau đây:
1. Trường sinh (S): Vạn vật sinh ra
2. Mộc dục: Mới sinh, còn yếu ớt.
3. Quan đới: Bắt đầu phát triển.
4. Lâm quan: Giai đoạn trưởng thành.
5. Đế vượng (V): Đã phát triển đến cực thịnh.
6. Suy: Bắt đầu suy yếu.
7. Bệnh: Lâm bệnh.
8. Tử: Chết.
9. Mộ (M): Vào mộ. (Con đi thi mà vào Mộ thì không làm được bài).
10. Tuyệt (T): Đã tuyệt diệt.
11. Thai: Thai nghén chu kỳ vòng trường sinh mới. (Xem có con mà trong quẻ có hào Thai thì mới hy vọng có con).
12. Dưỡng: Thai nghén cần được nuôi dưỡng.
Trong 12 bước này có 4 bước quan trọng là Sinh, Vượng, Mộ, Tuyệt – thường dùng trong dự đoán để xem xét các hào là Trường sinh, Đế vượng hay lâm Mộ lâm Tuyệt. Hào Dụng thần, Thế được Sinh hay Vượng thì tốt, lâm Mộ hay Tuyệt thì xấu. 4 bước quan trọng này có liên quan với Tam hợp cục: Kim cục, Mộc cục, Thuỷ cục, Hoả cục. Cụ thể như ở Bảng 8.5:

Những yếu tố dùng để phân tích quẻ dịch  1

 Vượng Tướng Hưu Tù Tử
Vượng Tướng Hưu Tù Tử là những khái niệm đặt ra khi luận về quan hệ sinh khắc theo 4 mùa. Cụ thể như ở Bảng 8.6.
Ta nói:
– Mùa Xuân mang hành Mộc nên Mộc Vượng.
– Mộc Vượng sinh Hoả nên Hoả Tướng.
– Thuỷ sinh Mộc Vượng nên hết sức – Thuỷ Hưu.
– Kim khắc Mộc Vượng nên Kim Tù (vì không khắc được).
– Mộc Vượng khắc Thổ nên Thổ chết – Tử.

Những yếu tố dùng để phân tích quẻ dịch  1

Ngày không vong
1. Ta biết tên mỗi ngày được gọi bằng một tên Can Chi. Trong 60 hoa giáp người ta chia ra thành 6 tuần Giáp, mỗi tuần 10 ngày tương ứng với 10 Can: Giáp Ât Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý. Nhưng tên ngày theo địa Chi lại có 12 Chi: Tý Sửu Dấn Mão Thìn Tị Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi, so với Can thì mỗi tuần Giáp thừa ra 2 Chi. Hai Chi này gọi là Chi không vong. Vậy cứ mỗi tuần Giáp 10 ngày thì có 2 ngày Không vong, là 2 ngày đứng trước ngày đầu của tuần Giáp. Ngày Không vong tính theo tuần Giáp cụ thể như sau:
– Tuần Giáp Tý có 2 ngày Không vong là: Tuất, Hợi.

Những yếu tố dùng để phân tích quẻ dịch  1

Xem thêm: Bán nhà nhanh chóng. Dễ dàng. Đăng tin của bạn tại Bán nhà Hải Phòng

Một số thuật ngữ cần nhớ trong quẻ Dịch

 Một số thuật ngữ cần nhớ trong quẻ Dịch

– Thượng quái = Ngoại quái: là quái đặt trên trong một trùng quái.
– Hạ quái = Nội quái: là quái đặt dưới trong một trùng quái.
– Quái Phản ngâm: Là quái biến có ngũ Hành khắc quái chủ.
– Hào phản ngâm: là hào trong quái Phản ngâm mà có Hành khắc với hào tương ứng trong quái chủ.
– Quái Phục ngâm: Là quái chủ và quái biến có ngũ hành địa chi trùng nhau.
– Quái Quy hồn: là quái cuối cùng trong hệ 8 quái biến.
– Quái Du hồn: Là quái trước quái Quy hồn.

– Quái Dụng = Quẻ Dụng: Là đơn quái có hào động trong trùng quái.
– Quái Thể = Quẻ Thể: Là đơn quái không có hào động trong trùng quái.
– Hào Dụng thần: Là hào tiêu chí để dự đoán.
– Hào Nguyên thần: Là hào sinh cho hào Dụng thần.
– Hào Kỵ thần: Là hào khắc hào Dụng thần.
– Hào Cừu thần: Là hào khắc Nguyên thần, sinh cho Kỵ thần, bị DT khắc.
– Hào Thế: Là ta hay phía ta.
– Hào ứng: Là đối phương hay sự việc.
Quan hệ sinh khắc giữa các hào như sau:

 Một số thuật ngữ cần nhớ trong quẻ Dịch 1

– Hào động biến: Là hào biến đổi âm dương từ quái chủ sang một hào tương ứng ở quái biến. Hào Dương biến sang Âm ta ký hiệu (o), Âm biến sang Dương- ký hiệu (x).
– Hoá tiến, hoá thoái: Các hào trong quái chủ và các hào tương ứng trong quái biến tiến theo địa Chi và có cùng Hành thì gọi là Hoá tiến (Dần- Mão, Tị- Ngọ, Thân- Dậu, Hợi- Tý, Sửu- Thìn, Thìn- Mùi, Mùi- Tuất, Tuất- sỉtu). Ngược lại lùi theo địa Chi là Hoá thoái (Mão- Dần, Ngọ- Tị, Dậu- Thân, Tý- Hợi, Thìn- Sửu, Sửu- Tuất.

 Một số thuật ngữ cần nhớ trong quẻ Dịch 1

Tuất- Mùi, Mùi- Thìn). Nếu một hào trong quái chủ hoá sang hào tương ứng trong quái biến mà có hành sinh cho hào ở quái chủ thì gọi là Hồi đầu sinh (nếu tốt thì tốt lên, nếu xấu thì xấu thêm), ngược lại, khắc hào ở quái chủ thì gọi là Hồi đầu khắc (nếu tốt thì kém tốt đi, nếu xấu thì kém xấu đi).
Trùng quái lục xung
Trùng quái lục xung là trùng quái có các hào xung nhau từng đôi một.
Thí dụ: Trùng quái Tốn có các hào xung nhau từng đôi một như sau: Sửu xung Mùi;
Hợi xung Tị; Dậu xung Mão.

Xem thêm: Bán nhà nhanh chóng. Dễ dàng. Đăng tin của bạn tại Bán nhà Hải Phòng

Lập quẻ Dịch theo tượng quẻ

Có 8 quẻ là: Càn Đoài Ly Chấn Tốn Khảm Cấn Khôn. Biểu tượng của 8 quẻ này được thể hiện trong Bảng 8.10. Tám quẻ này cùng với số tương ứng của nó được dùng để lập một trùng quái.
a) Lập trùng quái Chủ (Gốc)
Trùng quái Chủ được lập bằng cách lấy trực tiếp các tượng quẻ đơn đặt trên dưới nhau để được một trùng quái (quẻ kép). Có nhiều cách khác nhau để chọn tượng quẻ, thí dụ như:
Dùng Hướng nhà và Sơn nhà lập thành một Trùng quái. (Đặt Hướng trên, Sơn dưới). Thí dụ: Nhà Sơn Tý Hướng Ngọ. Ta biết Tý nằm ở phương Bắc trong Hậu thiên bát quái do quái Khảm quản, còn Ngọ ở phương Nam do quái Ly quản, Vậy ta được quẻ Hoả Thuỷ Vị tế (Ly trên Khảm dưới):
Dùng Hướng nhà phối với Mệnh tinh của chủ nhà thành một trùng quái, quái Thượng là mệnh chủ, quái Hạ là hướng nhà. Thí dụ chủ nhà mệnh Chấn, nhà hướng Đông Nam (Tốn) ta được quẻ Lôi Phong Hằng (Chấn trên Tốn dưới):
Dùng tượng người hay con vật phối với hướng đi tới lập thành một trùng quái, quái Thượng là người hay con vật, quái Hạ là hướng đi tới. Thí dụ: có một thanh niên đi từ hướng Ly tới đê hỏi xem quẻ.

Dùng hình thái, màu sắc, âm thanh, vị trí, tính chất của sự vật, số nét chữ của họ hoặc tên người xin quẻ v.v… để xác định quẻ dịch. Thí dụ: màu đen thuộc Thuỷ là quẻ Khảm, màu đỏ Hoả thuộc Ly; sự vật lúc xem quẻ thấy tươi sáng là thuộc quẻ Ly, vui vẻ thuộc quẻ Đoài (xem Bảng 8.9). Tuỳ theo kinh nghiệm và sự sáng tạo của người lập quẻ mà vận dụng nhiều cách khác nhau để lập trùng quái Chủ.
Chú thích: Khi lập trùng quái Chủ có thể căn cứ vào số đã có để xác định quẻ (gọi là phương pháp Tiên thiên chiêm quái), hoặc căn cứ vào quẻ đã có để xác định số (gọi là phương pháp Hậu thiên chiêm đoán). Điều này tuỳ thuộc vào điều kiện chiêm đoán.
b) Lập trùng quái Biến
Để lập trùng quái Biến cần phải tìm hào biến trong quẻ Chủ. Trong trường hợp này ta lấy tổng gồm số của quẻ trên cộng với sô’ của quẻ dưới (xem Bảng 8.1) rồi cộng thêm số của giờ lập quẻ, hay giờ người đến hỏi rồi chia cho 6. Số dư chính là hào động biến. Cho hào này biến Âm sang Dương hay Dương sang Âm ta sẽ có được trùng quái Biến.
Thí dụ: quẻ Hoả Thuỷ Vị tế ở trên được lập vào giờ Tị là số 6, số của quẻ Ly là 3, số của quẻ Khảm là 6. Ta có: 3 + 6 + 6 = 15, chia 6 dư 3, vậy hào 3 Âm biến thành Dương. Ta được quẻ biến là Hoả Phong Đỉnh:

Lập quẻ Dịch theo tượng quẻ 1

Bát quái phối Can Chi
Sau khi lập được trùng quái, ta cần phối Can Chi cho tùng hào. Có thể phối theo Thiên Can hay Địa Chi.
1) Phối Thiên can
Phối Thiên can theo bát quái Tiên thiên được áp dụng để lập trùng quái theo Can. Cụ thể nguyên tắc phối như sau:
Quái Càn: Thượng quái phối với Can Nhâm
Hạ quái Giáp
Quái Khôn: Thượng quái phối với Quý
Hạ quái Ất
Quái Đoài: Phối với Đinh
Ly quái: Kỷ
Chấn quái: Canh
Tốn quái: Tân
Khảm quái: Mậu
Cấn quái: Bính

Lập quẻ Dịch theo tượng quẻ 1

Phối Địa Chi
Địa Chi được phối theo nguyên tắc sau:
1. Quái Dương (+) phối Chi Dương (+), bỏ Chi Âm (-)
Quái Âm (-) phối Chi Âm (-), bỏ Chi Dương (+).
2. Phối theo thứ tự từ hào 1 đến hào 6.
Phối Chi (+) bắt đầu từ Tý (thuận chiều KĐH)
Phối Chi (-) bắt đầu từ Sửu (ngược chiều KĐH).
Nguyên tắc phối Địa chi được thể hiện trong Bảng 8.2 và Hình 8.1 dưới đây.
Chú ý: Vì Địa Chi được phối liên tục từ hào 1 đến hào 6, nên việc phối cho các hào 4,5,6 ở quái Thượng cần được tính thứ tự từ hào 1 rồi bỏ qua 3 hào đầu, bắt đầu phối từ hào 4 đến hào 6.

Lập quẻ Dịch theo tượng quẻ 1

 

Xem thêm: Bán nhà nhanh chóng. Dễ dàng. Đăng tin của bạn tại Bán nhà Hải Phòng