Bàn về lục Thân – P1

Quẻ có hào Phụ mấu không có hào Tử tôn là nhà đó hư hao và có nhiều điều phiền não.
Hào Phụ mẫu không vong là nhà không tốt. Phụ, Tử, hào Tài đều vượng là của cải đầy nhà, nếu gặp thiên hỷ Thanh long là nhà phú quý.
Phụ mầu động thì nhà nhiều việc phiền não. Phụ mẫu hưng vượng là đất có hồn khí. Phụ mẫu hoá Thê tài là của cải nhiều. Phụ mẫu tuần không hoặc Thân quẻ động biến thì khó kế nghiệp của tổ tiên.
Quẻ thiếu Tử tôn thì tài hao tán, không chế được Quan (Tử khắc Quan), thì công việc sẽ rắc rối.
Tử tôn lâm Nhật động thì mất chức.
Tử tôn ở hào 5 hợp Phụ mẫu là nhà có con nối nghiệp cha, ngược lại Tử khắc Phụ thì con ngỗ ngược.
Hào Tử tôn lâm tử địa mà không có hào Huynh sinh trợ thì đời sau không vượng. Tài động thì hao tổn và vợ có nhiều bệnh. Nếu động mà khắc Phụ thì nhà không yên ổn, (nhưng không khắc được hào 5).
Hào Tài ờ quẻ Thượng , lại có hào 2 (nhà) lâm Thanh long thì nhà đại cát.
Tài không bị tổn thương lại có hào Tử (sinh tài) thì nhà giàu có vinh hoa.
Tài hưng vượng lại được sinh phù thì nhà giàu và có thế lực. (Hào Tài nhiều, được Nhật Nguyệt sinh phù, lại có hào Tử sinh Tài thì nhà giàu hào kiệt).
Tài được Tử sinh trợ, lại động khẵc Phụ mẫu thì là hại cha mẹ (Phụ Dương thì bố bị khắc, Âm thì mẹ bị khắc).
Tài hoá Tử tôn thì không lợi cho việc thăng quan tiến chức.
Quan quỷ có trợ giúp mà không bị kiềm chế (tức là có yếu tố khắc chế) thì nhà âm thịnh, đại suy.
Quan lâm trạch động là nhà không ở lâu được.
Quẻ có Quan mà không có Tài thì tai hoạ liên miên, có Tài mà không có Quan thì hao tán.
Quan quỷ động lâm Bạch hổ thì nhà hay gặp tai ương. Trong trường hợp này nếu có Tử tôn để kiểm chế Quan quỷ (Tử khắc Quan) thì không sao.
Quan trì Thế có Tài sinh cho là nhà ở tốt. Tài hoá thần phúc (Tử) thì của cải ngày càng nhiều (Tử sinh Tài).
Quan lâm Mộ, hào Thân bị khắc chế thì nhà đó không tốt.
Bốn quỷ (năm, tháng, ngày, giờ) trì Thế lại lâm hào Thân là chủ về tai nạn.
Quan quỷ gặp hào Thân là dưới nền nhà có mộ.
Hào Quan nằm ở cung Khôn (Thổ) thì mồ míả tổ tiên không yên.
Quan động mà không có kiềm chế thì gặp kiện tụng.
Quan vượng lâm trạch (hào 2) lại gặp Thanh long thì là đại cát.
Quan ở cung Khôn, Cấn thì mồ mả tổ tiên không yên, dễ gặp tai hoạ.
Có Quan mà không có Tài thì người trong nhà nhiều bệnh.
Hào Quan động lâm Hoả thì phải đề phòng có hoả hoạn.
Hào Huynh nhiều thì con ngỗ ngược. Nếu Huynh khắc Thế thì quẻ rất xấu.
Trong quẻ không có hào Huynh sinh cho hào 5 trì Thế (hào người) thì anh em không nhờ được nhau.

Nguyên tắc dự báo nhà dựa theo phân tích các hào

Dự đoán bằng phân tích các hào trong trùng quái
Phần này chỉ giới thiệu những tiêu chí dự báo để thấy tình trạng ở của nhà, trả lời cho câu hỏi nhà này ở tốt xấu ra sao (có yên ổn không, có tài lộc không, có mộ dưới nền nhà
hay có gặp quỷ thần không…), mà không đi sâu về tình trạng nhà (như nhà cũ mới, tường vách, thấm dột, vị trí của nhà, hàng rào v.v…).
1. Nguyên tắc dự báo nhà dựa theo phân tích các hào
Khi dự báo về nhà dựa theo phân tích các hào thì việc lập trùng quái Chủ và Biến được thực hiện theo phương pháp dùng năm tháng ngày giờ hoặc phương pháp gieo đồng tiền theo mục 8.2.1. Trong đó coi quái Hạ là nhà, quái Thượng là người (chủ nhà). Nhà sinh cho người thì tốt, ngược lại, người sinh nhà thì xấu.
Khi phân tích dự báo nhà thì không chọn hào Dụng thần, mà phân tích ý nghĩa từng hào trong trùng quái Chủ và trùng quái Biến.
Quy ước về đặc trưng các hào trong trùng quái được nêu trong Bảng 8.12.

Nguyên tắc dự báo nhà dựa theo phân tích các hào 1

Khi dự đoán về nhà thì ý nghĩa lục thân như sau:
Hào Phụ mẫu là rường cột;
Hào Thê tài là nhà bếp, bếp núc;
Hào Huynh đệ là cửa ngõ, hành lang;
Hào Tử tôn là nhà phụ;
Hào Quan quỷ là dinh thự.
2. Những tiêu chí để dự đoán vê nhà
Khi dự đoán về nhà cần phân tích từng hào trong trùng quái, giống như bác sỹ khám từng bộ phận của cơ thể để tìm bệnh. Dưới đây trích một số tiêu trí trong [7],
Đánh giá chung:
Được quẻ vượng thì tốt, quẻ gặp hợp là tốt, gặp tam hình, lục xung là không tốt. Cả sáu hào trong quẻ đều yên tĩnh là nhà ở yên ổn. Nếu trong sáu hào mà động nhiều lại có Thuỷ Hoả thì để phòng có tai nạn về nước lửa.
Tử tôn (tài phúc), phụ mẫu, huynh đệ, quan quỷ ở quẻ Thượng thì tốt.
Hào 2 là nhà, hào 5 là người, hai hào này tương sinh thì tốt. Hào 2 khắc hào 5 (nhà khắc người) là xấu, ngược lại, hào 5 khắc hào 2 thì tốt.
– Trong quẻ Hoả nhiều thì gặp điều phiền não, Mộc nhiều là người thanh tú, Thuỷ nhiều thì phụ nữ vượng, Kim nhiều thì phụ nữ đông, Thổ nhiều (sinh tài) thì tiền của nhiều.
Gặp quẻ Du hồn và quẻ Bát thuần thì tai hoạ liên miên.
Hào Thể Úng lâm Tử, Thanh long, Thiên ất quý nhân, vượng do được Nhật Nguyệt kiến thì tốt.
Trong quẻ Chủ có nhiều hào Âm, ít hào Dương (thí dụ: 5 hào Âm, 1 hào Dương) là âm khí nặng nên dễ bị gặp nạn vì đàn bà.
Sau đây là những tiêu chí dự đoán cho các hào:
Hào 1 vượng tướng là vùng đất ở tốt.
Hào 2 vượng tướng là chỗ đất ở tốt.
Hào 3 vượng tướng là chỗ ở gần chợ.
Hào 4 vượng là ở thị trấn, thành phố.
Hào 5 vượng là ở nơi kinh thành.
Hào 6 vượng là ở nơi rừng núi trung du hoặc vùng nông thôn.
a) Hào 1: Là nền nhà, giếng nước, người làm thuê trong nhà.
Lâm Tài, Tử thì cát, lâm Quan quỷ hay kỵ thần là hung.
Là hào Thổ hoá sang Thổ thì dưới nền đất có mộ.
Lâm Quan quỷ, hay là hào Phụ mẫu động lâm Bạch hổ thì nền nhà gây tổn thương cho con cái hay người làm thuê.
Là hào Quan quỷ lâm Mộ thì dưới nền nhà có mộ cổ. Thí dụ: hào 1 Tị Hoả Quan, dự báo vào ngày Tuất hay tháng Tuất là lâm Mộ (Dần Ngọ Hoá Tuất). Nếu không phải là hào Quan, nhưng lâm Mộ lại gặp Phi xà (chủ quái dị) thì nền nhà cũng có mộ.
Là hào Mộc quan quỷ thì phía bên trái nhà có rễ cây xuyên phá nền nhà.
Hào 1 (nền nhà) xung hào 5 (người) thì người ở không yên.
b) Hào 2 (Hào trạch): Là không gian ở của nhà hoặc bếp.
Là hào Hoả quỷ và Chu tước thì nhà dễ hoả hoạn. Nếu là hào Tài, Tử (Phúc) vượng tướng thì nhà yên và đầy đủ.
Lâm Quan quỷ lại nằm ở quẻ nội Cấn Thổ (là quỷ môn) thì nhà thường có việc kinh dị.
Là hào thuộc Mộc bị Nhật, hào Kim xung khắc thì nhà nghèo. Nếu gặp Kim cục mà bị xung thì cũng nghèo.
Hào 2 không vong lâm hào Thân tuần không là nhà chủ cũ đã bó đi vì ớ không yên. Nếu là Bạch hổ lại thêm hình khắc thì nhà này đại hung.
Là hào vượng lâm Thanh long thì là nhà quan chức.
Là hào Úng thì nhà có người ngoài ở cùng (Dương nam, Âm nữ). Nếu có Đào hoa lâm Huyền vũ thì đề phòng quan hệ nam nữ.
Lâm Kim động là việc công lôi thôi, Mộc động là phong thuỷ xấu,Thổ động là nhà ổn định, Thuỷ động là ở chỗ không tốt bên sông, Hoả động là nơi đường chợ
ồn ào.
Là hào động lâm nguyệt phá khắc hào Thế, hào Thân thì nhà tai vạ liên miên.
Hào Thế lâm Nhật thin (hợp Nhật) khắc hào 2 là chỗ ở không yên.
Lâm Nhật, động sinh hào Thế hoặc hào Thân là nhà ở tốt.
Lâm Quan quỷ thì nên tĩnh, nếu động thì không ở được lâu.
Lâm Tài hoặc Quan gặp Thanh long quý nhân (thì sinh vượng) sinh hợp Thế thì gia đình làm ăn thịnh vượng.
Hào 2 không bị phá, sinh Tài thì thịnh vượng. Nếu là hào Tài, Tử sinh vượng mà sinh hợp hào Thế hào Thân thì gia đạo bền vững.
Bị xung phá thì vợ chồng mỗi người một ý.
c) Hào 3: Là cửa của nhà.
Nếu sinh hợp với Nhật, Thái tuế là hướng nhà có lợi.
Lâm Tài, Tử, Thanh long là có cát thần phù trợ. Lâm Quan quỷ lại Bạch hổ thì hay gặp điều cãi vã, thị phi. Lâm Huynh đệ thì tiền tài hao tán không tụ.
Hào 3 và 4 tương xung là 2 cửa thông với nhau, ít sinh tài.
d) Hào 4: Là cửa giữa, không gian ở.
Gặp Tài, Tử, Thanh long là tốt, lâm Quan quỷ, Chu tước là có việc kiện tụng.
Lâm cát thần động thì tốt, hung thần động thì xấu.
Lâm Quan quỷ hay gặp Phi xà động thì nhà không yên, dễ kiện tụng, cãi vã.
e) Hào 5: Là người, con trai cả.
Lâm Quan quỷ thì vợ chồng dễ sinh ly, gặp Tử tôn thì yên ổn.
Hào 5 khắc hào 2 thì người yên ổn, động mà khắc hào 2 thì không yên.
Lâm Quan quỷ, Bạch hổ, Phi xà thì con trai cả có việc hối tiếc. Bạch hổ động khắc hào 5 là có bệnh nan y khó chữa.
Lâm Tử khắc Phụ mẫu thì con cái không hiếu thảo, lâm Tài trì Thế là phụ nữ lấn át quyền chồng.
Lâm Thê tài tương hợp Quan quỷ là nhà có vợ nội chợ tốt, nếu Tài vượng thì vợ lấn át chồng.
Trong quẻ không có hào Huynh sinh cho hào 5 là anh em không nhờ được nhau.
f) Hào 6: Là nóc nhà, là cha.
Gặp Kim Quỷ hoặc bị Nhật Nguyệt xung là nhà không yên hoặc đói rách.
Lâm Tài, gặp không vong là vợ yếu đuối. Nếu gặp Nhật xung thì vợ có thể bị thiệt mạng.
Cần xem hào 6 có động không: Lâm Huynh đệ động thì vợ chồng không đoàn tụ; ‘ Phụ mẫu động thì con cái có nỗi lo; Tử tôn vượng động thì nhà luôn có niềm vui; Quan quỷ động thì nhiều tai hoạ.

Xem thêm: Bán nhà Hà Nội 2014

Trình tự tiến hành dự đoán theo quẻ Thể, quẻ Dụng.

Trình tự dự đoán theo các bước sau:
– Bước 1: Lập quẻ Chủ, quẻ Biến và quẻ Hỗ.
– Bước 2: Xem lời quẻ và lời hào của Chu Dịch để dự đoán dữ lành.
– Bước 3: Xác định quẻ Thể, quẻ Dụng và phân tích tương quan ngũ Hành
sinh khắc của các quẻ.
– Bước 4: Xác định ngày ứng nghiệm.
– Bước 5: Phân tích tổng hợp để đưa ra lòi dự đoán.
Sau đây là diễn giải các bước cụ thể:
a) Bước 1: Lập quẻ Chủ, quẻ Biến, quẻ Hỗ
Cách lập quẻ Chủ và quẻ Biến đã nêu cụ thể ở mục 8.2.1. Cách lập quẻ Hỗ nêu ở mục 8.4.2.
b) Bước 2: Xem lời quẻ và lời hào
Cần xem lời quẻ Chủ và quẻ Biến và lòi hào của hào động trong quẻ Chủ ghi trong sách Chu Dịch. Qua các lời quẻ và lời hào ta có thể định hướng tổng thể chiêm đoán dữ lành. Nếu lời cát thì sẽ đại cát. Nếu lời hung thì có thể sẽ đại hung. Nếu có điềm lành, lại có điềm dữ thì phải nghiên cứu kỹ lời quẻ, lời hào và quan hệ sinh khắc của tượng quẻ.
a) Bước 3: Xác định quẻ Thể, quẻ Dụng và phân tích tương quan ngũ Hành sinh khắc của các quẻ.
Đây là bước quan trọng nhất của quá trình dự đoán. Đầu tiên phải xác định đúng quẻ Thể và quẻ Dụng trong trùng quái Chủ theo nguyên tắc: Quẻ có hào động là quẻ Dụng, không có hào động là quẻ Thể. Đối với trùng quái không có hào động hoặc cả qué trên và quẻ dưới đểu có hào động thì lấy quẻ có hào Thế làm quẻ Thể, Quẻ có hào úng làm quẻ Dụng.
Tiếp theo cần phân tích kỹ quan hệ ngũ Hành tương sinh tương khắc của quẻ Dụng, quẻ Chủ, quẻ Hỗ đối với quẻ Thể. Tính tốt xấu trong quan hệ Dụng Thể .Khi xem gia trạch thì lấy quẻ Dụng là nhà, quẻ Thể là người (chủ nhà) đê xem xét. Đê đánh giá mức độ sinh khắc giữa các quẻ cần quan tàm đến tính suy vượng khí nêu trong Bảng Quẻ vượng thì có thể sinh khắc quẻ suy. Ngược lại quẻ suy không thể sinh khắc quẻ vượng, hoặc có sinh khắc thì mức độ cũng rất hạn chế, chỉ là kỵ huý mà thôi. Lại còn phải xem sinh khắc này là thực hay giả. Điều quan trọng là phải xem có quẻ khắc Thê không. Nếu không có khắc Thể thì chiêm đoán chắc là tốt đẹp. Còn nếu có khắc Thể thì phải xem có cứu hay không. Nếu có khắc Thể mà không có cứu thì chắc chắn là kết quả chiêm đoán sẽ xấu. Thí dụ: xem người bệnh mà Càn là quẻ Thể thì phải xem trong quẻ có Ly và có Khôn hay không. Nếu có Ly Hoả mà không có Khôn Thổ đê sinh cho Kim Càn thì chỉ có Hoả khắc Kim, người bệnh chắc chắn là chết vào ngày Tị, Ngọ (Hoả). Nếu trong quẻ không có quẻ sinh Thể, cũng không có quẻ khắc Thê’ thì cãn cứ vào quẻ gốc mà suy luận. Khi có hào động thì xem lời hào động trong quẻ Chủ để đoán. Khi không cố hào động thì lấy tượng quẻ để đoán.
Có 3 loại hình tương quan ngũ Hành của Thể Dụng. Đó là:
Tương sinh: Bao gồm Sinh nhập, là Dụng sinh Thể (tức Thể được bồi bổ thêm- rất tốt). Và Sinh xuất, tức Thể sinh Dụng (Thể bị tiết khí)- xấu hoặc không tốt lắm.
Tương khắc\ Gồm có Khắc nhập, là Dụng khắc Thể- Thể bị kìm hãm- Rất xấu. Và Khắc xuất, Thể khắc Dụng- Thể bị tổn sức- không tốt nhưng không xấu lắm. Trong trường hợp này thì Thể không có sự hỗ trợ.
Tỷ hoà: Tức là Thể Dụng cùng một Hành, nghĩa là Thể được bồi bổ thêm- rất tốt.
Khi phân tích tương quan sinh khắc giữa các quẻ, có thể tham khảo kinh nghiệm tiên đoán về thể sinh khắc của các quẻ nêu trong Bảng 8.9

 Trình tự tiến hành dự đoán theo quẻ Thể, quẻ Dụng. 1

 Trình tự tiến hành dự đoán theo quẻ Thể, quẻ Dụng. 1

Xem thêm: Ban nha Ha Noi co hinh anh

Lập quẻ dịch

 Cách lập một quẻ dịch (Trùng quái)
Tuỳ theo điều kiện cụ thể, có thể lập một quẻ Dịch (một trùng quái) bằng cách dựa theo thời gian năm tháng ngày giờ, gieo đổng tiền, hoặc ghép nối các tượng quẻ (thí dụ như quẻ đơn Hướng nhà ghép với quẻ đơn mệnh quái của chủ nhà).
/. Lập quẻ Dịch ịtrùng quái) theo thời gian Năm, Tháng, Ngày, Giờ Các bước lập Trùng quái gồm có:
a) Xác định sô’ cho thời gian
• Giờ:
Giờ Tý số 1 Giờ Sửu số 2 Giờ Dần số 3
Giờ Hợi số 12.
• Ngày (âm lịch):
Ngày mồng 1 số 1 Ngày mồng 2 số 2 Ngày mồng 3 số 3
Ngày 30 số 30
• Tháng (âm lịch):
Tháng Giêng (Dần) số 1 Tháng Hai (Mão) số 2 Tháng Ba (Thìn) số 3
Tháng 12 (Sửu) số 12
• Năm:
Năm Tý số 1 Năm Sửu số 2 Năm Dần số 3
Nãm Hợi số 12
Chú thích:
• Khi dự đoán vận mệnh cuộc đời cho ai thì lấy Giờ, Ngày, Tháng, Năm sinh của người đó. Trọng đó Nãm sinh lấy theo hàng Can với các số tương ứng như sau:

Lập quẻ dịch 1

• Lấy thời điểm trước hoặc sau Lập Xuân để tính năm tháng sinh của mỗi người. Người sinh trước Lập Xuân thì tính năm sinh là năm trước. Sinh sau Lập Xuân thì tính năm sau. Còn các tháng thì lấy Tiết lệnh của tháng để xác định tháng sinh. Trước Tiết lệnh là vào tháng trước, sau Tiết lệnh là vào tháng sau. (Tiết lệnh tháng xem Báng 6.3). Việc xác định tứ trụ chuẩn xác sẽ giúp cho xác định đúng tính vượng suy trong quẻ Dịch.
Thí dụ: – Giả sử năm 1987 – Đinh Mão, Lập Xuân vào 15hl5p ngày 7/1 âm lịch.
Người sinh trước I5hl5p ngày 7/1 sẽ có tứ trụ là:
Năm 1986 – Bính Dần, tháng 12 – Tân Sửu, ngày 7 – Giáp Thân, giờ Thân. Người sinh sau 15hl5p có tứ trụ là:
Năm 1987- Đinh Mão, tháng 1 – Nhâm Dần, ngày 7 – Giáp Thân, giờ Thân.
– Giả sử nãm 1986, Lập Hạ vào 2h31p ngày 28/3 âm lịch.
Người sinh trước Tiết Lập Hạ có tứ trụ là:
Năm 1986 – Bính Dẩn, tháng 3 – Nhâm Thìn, ngày 28 – Canh Tuất, giờ Dần. Người sinh sau Tiết Lập Hạ có tứ trụ là:
Năm 1986 – Bính Dần, tháng 4 – Quý Tị, ngày 28 – Canh Tuất, giờ Dần.
Chú thích: – Nếu tiết lệnh nằm vào tháng nhuận thì trước tiết lệnh thuộc vào tháng nhuận, sau tiết lệnh thuộc vào tháng sau.
– Lệnh tháng chỉ chung để xét tính suy vượng của quẻ. b) Mã hoá 8 cpie’ đơn theo số dư tính toán Cụ thể như sau:

Lập quẻ dịch 1

c) Tính toán lập quẻ + Quẻ chủ
• Thượng quái
Lấy tổng A gồm các số của Ngày + Tháng + Nãm chia cho 8, được số Dư tra Bảng 8.1 được quẻ trên (Thượng quái).
• Hạ quái
Lấy tổng B gồm các con sô Giờ + Ngày + Tháng + Năm chia cho 8 được sô Dư, tra Bảng 8.1 được quẻ Hạ (Hạ quái).
Chú thích: Tổng A và tổng B nếu không có số Dư thì lấy số Dư là 8 để tra Bảng 8.1.
+ Quẻ biến
• Xác định Hào động biến
Lấy tổng B chia cho 6, được số Dư chính là Hào động biến.
Chú thích: Khi không có số Dư thì hào 6 là động biến.
Thí dụ cụ thể: Lập trùng quái cho Giờ Ngọ, Ngày Tân Mão (Ngày 13), Tháng Mậu Thân (Tháng 7), Năm Đinh Hợi 2007.
– Ta có các số của tứ trụ như sau: Giờ = 7; Ngày =13; Tháng = 7; Năm = 12
– Lấy tổng A = 13 + 7 + 12 = 32, Dư 0, lấy số Dư là 8. Tra Bảng 8.1 được quẻ Khôn là Thượng quái.
– Lấy tổng B = 32 + 7 (số của Giờ) = 39; Chia cho 8, Dư 7. Tra Bảng 8.1 được quẻ Cấn là Hạ quái
– Đặt quẻ Khôn trên, quẻ Cấn dưới ta được quẻ chủ là trùng quái Địa Sơn Khiêm
– Lấy tổng 32 + 7 = 39; chia cho 6, Dư 3. Vậy Hào 3 động biến từ Dương sang Âm, ta được quẻ biến là trùng quái Thuần Khôn (Khôn vi Địa).

Lập quẻ dịch 1

 

Sơ lược về khoa học dự đoán

 Sơ lược về Dự đoán cổ
Ngày nay loài người có nhiều loại hình dự báo như: dự báo khí tượng thuỷ văn, dự báo tiến bộ kỹ thuật, dự báo phát triển kinh tế, dự báo trữ lượng mỏ v.v… Bản chất của những dự báo này là dựa vào những thông tin mang tính thống kê của quá khứ và hiện tại mà suy đoán tương lai. Độ chính xác của những dự báo này phụ thuộc vào trình độ phát triển khoa học kỹ thuật và trình độ phân tích của con người làm dự báo. Trong việc này, gọi là dự báo hay dự đoán cũng vậy. Người xưa lại có cách dự đoán của mình dựa theo tương quan Âm Dương Ngũ hành Can Chi. Tạm gọi đó là Dự đoán cổ. Độ chuẩn xác của dự đoán cổ cũng chuẩn xác nhiều khi đến phải ngạc nhiên. Nó gần như là một quy luật của Trời Đất mà con người còn đang tiếp cận đến.
Dự đoán cổ có nhiều loại hình khác nhau. Mỗi loại có công năng riêng của nó, nhưng đã từ lâu loài người thừa nhận dự đoán theo quẻ Dịch là có cơ sở và độ chuẩn xác khá cao. Vì vậy trong chương này tác giả chỉ đi sâu giới thiệu phương pháp dự đoán theo quẻ Dịch.
Dự đoán về nhà theo quẻ Dịch
Dự đoán theo quẻ Dịch có 2 phương pháp: theo tượng quẻ và theo phân tích từng hào trong quẻ. Dù cách này hay cách khác, việc đầu tiên là phải lập được quẻ Dịch dưới dạng một trùng quái, sau đó phân tích quẻ Dịch, rồi rút ra kết luận dự đoán (dự báo).
Quẻ Dịch gồm có quẻ đơn (còn gọi là Đơn quái) và quẻ kép (còn gọi là Trùng quái). Quẻ đơn gồm có 3 hào, và không nằm ngoài 8 quẻ: Càn Đoài Ly Chấn Tốn Khảm Cấn Khôn. Trùng quái gồm 2 quẻ đơn đặt trên và dưới liền nhau, tạo thành một quẻ kép gồm 6 hào. Quẻ trên gọi là Thượng quái hay Ngoại quái. Quẻ dưới gọi là Hạ quái hay Nội quái. Vì là có 8 quẻ đơn chồng lên nhau theo quy luật thứ tự biến các hào, nên ta sẽ có 8 X 8 = 64 trùng quái. Tên của các trùng quái xem ở Phụ lục 7.
Trong dự đoán người ta phân tích tính chất sinh khắc của các quẻ và các hào dựa trên thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Sau đây ta cần đi cụ thê vào phương pháp lập một quẻ Dịch và tìm hiểu các yếu tô phân tích một quẻ dịch nói chung, trước khi đi vào phân tích cụ thể một quẻ Dịch để dự đoán về ngôi nhà.

Điều chỉnh Sơn Hướng nhà

Khi một ngôi nhà không được Sơn, Hướng (toạ Sơn lập Hướng) thì sẽ kém vượng Khí, nói cách khác bị tổn đinh (nhân khẩu) và kém tài lộc. Vậy trong điều kiện có thể, nên kiểm tra lại Sơn Hướng nhà theo chỉ dẫn ở mục 4.1.2 và điều chỉnh lại Sơn Hướng của nhà cho đạt yêu cầu thì cuộc sống trong nhà này sẽ tốt lên nhiều.
Lấy thí dụ: Ngôi nhà có mặt bằng ở Hình 7.28. Nhà được xây vào năm 2002, tức là vào Vận 7 (từ năm 1984 đến nãm 2003). Nhà trông về phương Đông Nam. Lúc đầu nhà này có Sơn Canh, Hướng Giáp. Sau khi phi tinh Sơn Hướng theo mục 4.1.2, tác giả có bản đồ phi tinh Sơn Hướng như ở Hình 7.28.a). Phân tích ở đây thì thấy ở cung Hướng (Chấn) sao chủ Vận 7 nằm ở bên góc trái, là góc của sao Sơn. Như vậy là không hợp vị.
Còn ở cung Sơn (Đoài) thì sao 7 nằm ở góc phải, là góc của sao Hướng, cũng không hợp vị. Như vậy, nhà này phạm vào “Thướng sơn há thuỷ”. Ở nhà này nhất định là tổn đinh háo tài. Điều chỉnh trong trường hợp này, cách tốt nhất là đổi lại Sơn Hướng nhà.

Điều chỉnh Sơn Hướng nhà 1

Điều chỉnh Sơn Hướng nhà 1

Hỗ trợ biện pháp Điều chỉnh bằng Phù hiệu linh vật
Trên đây đã giới thiệu một số thí dụ cụ thể đê Điều chỉnh nhà. Các biện pháp ở đây tập trung vào việc điều chỉnh dòng khí vào nhà, thanh lọc bớt tà khí. Trên thực tế thì ngoài biện pháp điểu chỉnh dòng khí bằng các giải pháp kỹ thuật nêu trên, nếu được đặt thêm các phù hiệu linh vật thì cũng có tác dụng hỗ trợ. Xin nêu ở đây một vài nguyên tắc dùng phù hiệu linh vật:
1. Đặt Long (tượng Rồng): Đặt Long có tác dụng chế sát, sinh vượng, nhưng đặt phải đúng nguyên tắc. Long nên phối với Thuỷ. Vì vậy nếu đặt ở 2 bên bể cá là tốt. Nếu nhà gần sông, biển thì đặt Long hướng ra sông biển sẽ có tác dụng thu thuỷ, mà Thuỷ cũng là tiền tài. Long nên đặt ở phương Bắc, vì phương Bắc mang hành Thuỷ, có thuỷ khí vượng. Không đặt Long chĩa vào phòng ngủ. Nếu là tranh Long thì nên dùng khung màu ánh Kim để có Kim sinh Thuỷ, và treo ở vị trí phương Bắc trong nhà. Người tuổi Tuất không dùng tượng rồng vì Tuất Thìn xung nhau.
2. Đặt Sư tử: Sư tử được coi là thú hiền lành. Đặt sư tử có tác dụng trấn trạch, trừ tà. Có thể đặt sư tử đá hoặc đồng. Đặt ở phương Bắc, đầu hướng ra ngoài cửa. Nên đặt phối thành đôi, một cái một đực (khi đặt thấy 2 sư tử nhìn nhau là được). Nếu một bị vỡ thì thay cả đôi. Trên cửa lớn treo đầu sư tử cũng có tác dụng chế sát.
3. Đặt Rùa: Rùa cũng có khả năng chế sát. Có thể đặt rùa đá hay rùa đồng. Rùa là loài biết chịu đựng, gặp nguy thì thu mình vào mai mà không xung sát. Vì vậy đối với những nhà gặp xung sát mạnh (như bị thiên trảm sát, hay bị đao đình chiếu vào cửa chính chẳng hạn) có khi dùng rùa hơn là dùng sư tử, vì rùa hoá sát chứ không đấu chọi. Có thể treo một mai rùa đối diện với góc nhọn xung xạ cũng chế sát tốt.
4. Đặt tượng chó: Có thể là chó đá hay đồng. Tượng chó có tác dụng trấn trạch. Nên đặt ở cạnh cổng hoặc cửa lớn, đầu hướng ra ngoài. Người tuổi Thìn không nên dùng tượng chó vì Thìn Tuất xung nhau.
5. Đặt gà trống: Gà trống có thể dùng để đặt ở cửa khi trước nhà có địa hình giống như con rết (như có con đường hay dòng chảy ngoằn ngoèo), hay trước cửa bếp có ống nước chạy giống như một con rết. Chỉ đặt 1 con, mỏ chĩa ra phía có hình con rết. Người tuổi mèo không dùng tượng này.
6. Đặt voi đồng: Voi hút nước giỏi, nước là Thuỷ, cũng là tiền tài. Trước nhà có biển, sông hoặc ao nước mà trong nhà có đặt một voi đồng thì đại tài, cả nhà được lộc. Đặt voi trông vòi ra phía có nước để thu nước.
7. Treo chuông gió: Nhà trực đối với đường phố có thể đặt một chuông gió kỳ lân trên góc trái cửa ra vào sẽ có tác dụng trừ tà. Vì vậy ngoài các giải pháp dùng án sơn, chậu cảnh như nêu trên, nếu có thêm chuông gió thì càng tốt. Đặt chuông kim loại (thường bằng đồng) thì tốt hơn chuông bằng tre trúc, vì kim sinh Thuỷ (tiền tài). Cửa nhà có gió lùa thì có thể treo chuông gió ở cửa để chế sát. Tác dụng lúc này cũng giống như treo rèm hạt.
8. Treo hồ lô gỗ: Treo 3 hồ lô gỗ trong nhà tại vị trí cung Thiên y (hoặc Sinh khí, Phúc đức) sẽ có thể khiến ngưòi trong nhà khoẻ mạnh, tinh thần thoải mái, nhất là trong nhà có người lâm bệnh lâu dài.
9. Treo đồng tiền cổ: Nếu trước cửa có dấu hiệu xung sát thì treo hai xâu 7 đồng tiền cổ hai bên cửa ra vào sẽ có tác dụng chế sát.
10. Treo quả bầu hình nậm rượi : Quả bầu nậm có hình là 2 chữ s ghép lại. Trong kỹ htuật hiện đại người ta đã thử và thấy rằng những đồ đựng hình quả bầu nậm thì khó xuyên thấu sóng viba. Khi ngâm rượi trong bình hình quả bầu nậm thì rượi chóng ngấu hơn ngâm trong bình khác. Vào những ngày đại lễ hoặc gặp sự chẳng lành người dân Trung Quốc thường treo quả bầu nậm ở trước cửa đê để tránh tà. Trong nhà, ở những cửa sinh gió lùa có thể treo quả bầu nậm để giảm bớt xung khí.
11. Treo chiếc sáo: Trong phòng nếu có dầm hoặc xà kèo nằm ngang phía trên giường ngủ hay nơi phòng khách làm ta có cảm giác bị đè nén. Treo 2 chiếc sáo tại 2 đầu dầm hay xà nhà sẽ có tác dụng hạn chế tình trạng này.

Điều chỉnh hướng bàn thờ và hướng lò bếp

Đây là một phương pháp rất nhạy cảm để điều chỉnh trường khí vào nhà khi Hướng nhà gặp Du niên xấu. Điều này có ý nghĩa tích cực trong việc phát triển nhân tài lộc cho người sống trong nhà. Nguyên tắc là hướng bàn thờ và hướng lò bếp phải phối với Mệnh quái chủ nhà để có Du niên tốt. Bàn thờ phải đặt ở cung tốt so với mệnh trạch chủ nhà, còn lò bếp thì đặt ở cung xấu. Ngoài ra, khi Điều chỉnh theo phương pháp này thì cần xem những yêu cầu vể bố trí phòng thờ, bàn thờ, nhà bếp, lò bếp có bị vi phạm gì không. Nếu bị thì phái khắc phục trước khí Điều chỉnh hướng nhà. Thí dụ phòng thờ lại đặt dưới phòng khách, hay áp cạnh nhà vệ sinh, bàn thờ đặt ngay cạnh cửa sổ, hoặc lò bếp đặt trông ra cửa bếp v.v… Khi đó cần khắc phục sao cho vị trí bàn thờ và lò bếp đặt cho đúng yêu cầu, sau đó mới dùng hướng bàn thờ và hướng lò bếp để Điều chỉnh Hướng nhà.
Khi dùng hướng lò bếp để Điều chỉnh hướng nhà thì thường các tài liệu về văn hoá xây dựng phương Đông đều nêu nguyên tắc như sau đây, nhưng không thấy giải thích tại sao:
Hướng nhà lâm Tuyệt mệnh thì đặt lò bếp trông về Thiên y (Thiên y chế Tuyệt mệnh);
Hướng nhà lâm Ngũ quỷ thì đặt lò bếp trông về Sinh khí (Sinh khí giáng Ngũ quỷ);
Hướng nhà lâm Lục sát thì đặt lò bếp trông về Diên niên (Diên niên /Phúc đức yểm Lục sát);
Hướng nhà lâm Hai hoạ thì đặt lò bếp trông về Diên niên; 
  MỘT SỐ THÍ DỤ CỤ THỂ VỂ ĐIỂU CHỈNH ĐÃ ÁP DỤNG
Dưới đây giới thiệu một số trường hợp Điều chỉnh cụ thể để bạn đọc tham khảo. Đây là những thí dụ mà tác giả đã làm, hoặc có thể là những thí dụ sưu tầm trong các tài liệu tham khảo.
1. Nhà ở ngã ba đường phố
Ngôi nhà nằm ở vị trí ngã ba trên đường phố, hoặc ở trực diện cuối ngõ có thể bị dòng khí trên đường (vốn với lượng tà khí lớn) xông thẳng vào nhà. Trong trường hợp nàv có thể dùng một án sơn là một hàng cây thân tròn (Hình 7.19), hay một bức tường chắn xây cong (Hình 7.20), hoặc một bể phun nước để điểu chỉnh dòng khí vào nhà theo đường “khúc”, tạo thành đường Khí chuyển động cong hình chữ s.

Điều chỉnh hướng bàn thờ và hướng lò bếp 1

Đôi với những nhà ở góc phố thì không nên làm nhà sát ra góc phố, mà nên để ra phần đất tam giác góc phô là khu vực cây xanh để tránh tà (Hình 7.21). Cấu tạo hè phô’ rộng cũng là giải pháp cho việc này.
 Nhà đối trực diện với ngõ
Ngôi nhà có ngõ đâm thẳng vào cổng ở tính Bắc Ninh (Hình 7.22), được tác giả gắn Phù hiệu “Nhất thiện” trên trụ cổng cùng với chậu cảnh đặt ở sân, bên ngoài cửa sổ. Dòng khí đi vào nhà khi đó được trừ tà và uốn cong hình chữ s. Chủ nhà ở nhà này gặp thuận lợi, cuộc sống bình thường, kinh tế gia đình phát triển, sinh 2 con, 1 trai 1 gái.

Điều chỉnh hướng bàn thờ và hướng lò bếp 1

 Nhà bị Thiên trảm sát
Ngôi nhà ở Hình 7.23 là ở tỉnh miền Trung VN. Khi tác giả đến thăm nhà đã có nhận xét với chủ nhà: “Nhà ở thế này vợ chồng cãi nhau suốt ngày!”. Nghe thế, cả 2 vợ chồng đểu ngạc nhiên, sao mà đúng thế. Tác giả còn nói rằng nếu các bạn có công ty gia đình thì làm ãn sẽ thất bát, hợp đồng tưởng chừng xong đến nơi, nhưng nó lại bay đi. Hai vợ chồng chủ nhà rất khâm phục nhận xét trên là đúng.

Điều chỉnh hướng bàn thờ và hướng lò bếp 1

 Nhà có cửa phụ đặt ở cung không tốt
Chủ ngôi nhà ở Hà Nội có người con trai cưới vợ đã gần 2 nãm mà không có con. Hai vợ chồng đi khám, được biết không có vấn đề gì. Vậy sao mong mãi không có con? Chú nhà nhờ tác giả xem nhà có vấn đề gì không. Quả nhiên sau khi khảo sát nhà, thấy có cửa phụ trông vào cung Cô quả. Lò bếp cũng trông vào cung Cô quả. Thật là tai hại! Đặc biệt khi xem nhà, tác giả thấy trên tường cạnh cửa phụ này có treo một Phù hiệu. Hỏi ra thì được biết đã có một nhà Phong thuỷ nào đó treo Phù hiệu này từ trước khi người con trai lấy vợ. Như vậy nhà Phong thuỷ này cũng đã thấy cửa phụ lâm Cô quả. Ý đồ đặt Phù hiệu là để khắc phục khiếm khuyết này chăng? Theo nhận thức của tác giả thì Phù hiệu này không đủ công lực để giải được cưng Cô quả của cửa phụ này. Tác giả đã hướng dẫn chú nhà lấp cửa phụ lại, chuyển cửa phụ sang vị trí khác. Đồng thời chuyển vị trí nhà bếp và đật lại lò bếp trông về cung Phúc đức. Quả thật không phụ lòng: sau hơn 1 tháng người con dâu chủ nhà đã có bầu và sau đó sinh một cháu cho ông bà.

 Bàn thờ đặt chưa đúng chỗ
Một Ngân hàng ờ Hà Nội mời tác giả đến xem tại sao kinh doanh thất thường, doanh thu hàng tháng rất thấp, nợ thì khó đòi. Sau khi khảo sát, tác giả nhận thấy cửa chính của nhà Ngân hàng này thích hợp với mệnh của Giám đốc. Tác giả cảm nhận sinh khí vào nhà rất tốt. Tuy nhiên có mấy nhược điểm sau đây:
Bàn thờ tuy được hướng, nhưng đặt sát cửa sổ (Hình 7.25.a); Cửa phòng kinh doanh bị một cột to án ngữ phía trong phòng; Giám đốc ngồi tựa lưng vào góc tường và trông về hướng xấu.

Điều chỉnh hướng bàn thờ và hướng lò bếp 1

Phù hiệu học

Trong kỹ thuật Điều chỉnh nhiều khi dùng đến Phù hiệu, vì vậy ta cần tìm hiểu Phù hiệu học là gì.
Phù hiệu học là lý luận về kỹ thuật điều tiết (thu và truyền dẫn) trường khí bằng các Phù hiệu. Đó là hệ thống truyền dẫn thông tin năng lượng từ vũ trụ tự nhiên đến con người theo nguyên lý “Thiên Nhân tương ínig” (con người và tự nhiên hoà đồng). Phù hiệu không đơn thuần là một bùa chú như nhiều người quan niệm, từ đó hiểu Phù hiệu như là một cái bùa mê tín nhảm nhí, không đáng tin cậy. Thực ra, đây là một tri thức về ứng dụng Phù hiệu vào cuộc sống con người. Phù hiệu học thực chất là kỹ thuật tạo dựng quỹ tích vận động Khí dạng xoắn phục vụ lợi ích cho con người. Có thể nói Khí là linh hồn của Phù hiệu. Vì vậy Phù hiệu còn được gọi là Phù khí. Phù hiệu là sự cụ thê hoá thu nhỏ của mối quan hệ Thiên Địa Nhân. Trong Phù hiệu có năng lượng khí nên nó điều tiết được trường khí trong không gian và trong cơ thể con người. Vì vậy Phù hiệu có thể giúp điều chỉnh môi trường khí trong không gian ở, và có thể chữa được một số bệnh cho người (nhiều khi hiệu nghiệm đáng ngạc nhiên!). Đây là một khoa học và kinh nghiệm của xây dựng nhà của người phương Đông, không phải là việc làm mê tín. Thực tế cho thấy sử dụng Phù hiệu mang lại hiệu quả thiết thực trong việc cải thiện môi trường Khí trong nhà.
Cơ sở của Phù hiệu học là Trường khí xoắn có tính Âm Dương hài hoà, thông qua vòng xoáy trái và phải để thực hiện hiệu ứng trường xoắn vũ trụ. Trường khí này được thanh lọc để tăng Sinh khí, giảm Tà khí trước khi đưa vào môi trường sống của con người. Như vậy Phù hiệu học là một khpa học thu, thanh lọc và truyền dẫn Khí. Đó là cơ sở để dùng Phù hiệu trong kỹ thuật Điều chỉnh trong xây dựng nhà và công trình. Để làm việc này, trong Phù hiệu học người ta sử dụng cả Phù hiệu tự nhiên và Phù hiệu nhân tạo.
 Phù hiệu tự nhiên
Đó là những tồn tại khách quan của tự nhiên, có khá nâng thu phát khí, không phụ thuộc vào con người. Thí dụ sự vận động của cửu tinh (9 hành tinh) trong hệ mặt trời, sự chuyển động của bản thân trái đất quanh mặt trời đã tạo thành trường khí xoắn tác động lên trái đất và con người. Trên trái đất thì những vùng có “Sơn hoàn Thuỷ bão” (núi bao vòng, nước uốn khúc), vùng quanh hồ (như trong một lòng chảo ăng ten viba) là những vùng có khả năng tụ khí. Cây cối trong vùng này luôn xanh tốt. Con người sống trong vùng này thì sẽ khoẻ mạnh, nhân tài lộc phát triển (xem các vùng tụ khí thế hiện trên Hình 2.5 -4- 2.8). Ta biết sự nhấp nhô trùng điệp của núi sông luôn uốn lượn theo hình chữ s. Những chỗ có núi bao vòng như người đưa 2 cánh tay đón lấy, và những đoạn có sông uốn ôm vào là những vùng đất tụ khí rất tốt.
Phù hiệu tự nhiên còn thấy trên động thực vật như vỏ ốc, sên có hình xoắn trái phải, con nhện chăng tơ tạo một chảo ăng ten tụ khí, con chồn bắt mồi bằng cách vẽ vòng tròn nước dãi xung quanh con mồi đế giữ con mồi không chạy được, con ốc bắt con cua cũng bằng một vòng tròn bò quanh con cua v.v… Ở thực vật ta thấy các lá cây thường có mật nhẵn phía trên để nhận khí vũ trụ và mặt dưới ráp để tụ giữ khí, cây bông nớ hoa từ gốc lén ngọn theo vòng xoáy thuận chiều kim đồng hồ, còn cây lúa lại nở hoa từ trên xuống dưới bông theo chiều ngược kim đồng hồ.
 Phù hiệu nhân tạo
Phù hiệu nhân tạo là những Phù hiệu do con người tạo ra. Nguyên lý của những Phù hiệu này là Thiên nhân tương ứng – Con người và vũ trụ hoà đồng. Các loại hình Phù hiệu nhân tạo có thể là: tượng, đá trạm khắc, đồ gốm, đồ đổng, Thái cực đồ, Bát quái đồ, Cửu tinh đồ, giấy vẽ v.v… Mục đích của những Phù hiệu này là tạo dựng một trường khí xoắn hình chữ s tại nơi đặt Phù hiệu. Đây là những mô hình thu nhỏ của Phù hiệu tự nhiên, và có khả năng điều chỉnh trường khí và trừ tà. Vì vậy nó được dùng vào rất nhiều lĩnh vực hoá giải. Ta hãy phân tích một số dạng Phù hiệu nhân tạo.
1) Phù hiệu Tượng: Phù hiệu tượng thường dùng là những tượng hình hnh vật như Long Ly Quy Phượng (Rồng, Lân, Rùa, Phượng hoàng), hoặc hổ, chó V.V.. Các tượng này có thể làm bằng đá, gỗ, đất sét nung, vôi ximãng cát. Các Phù hiệu tứ linh thường được đặt trên mái hoặc tại cửa ra vào đình chùa, vừa là trang trí, vừa điều chỉnh khí vào nhà. Ta hãy quan sát bộ tượng rồng đặt trên mái và bộ tượng rồng đá đặt ở thểm nhà tướng niệm các liệt sỹ Củ Chi (Hình 7.9): Không chỉ là để trang trí, do tương có hình uốn khúc thân rồng, nên sẽ tạo được dòng khí trên mái và thềm vào nhà theo nguyên lý ’khúc hữu tinh’, làm tãng thêm phần sinh khí vào nhà. Người ta cũng có thể đặt hai bén nhà tượng rồng và hổ: bên trái đặt tượng rồng, bên phải tượng hổ (tả thanh long hữu bạch hổ) để điều chỉnh khí, hay đặt tượng chó đá ớ cổng nhà đê trừ tà v.v. Hình 7.10 là một tượng Bạch hổ. Tượng này đặt bên phải cửa nhà, phôi với bê nuôi cá bên trái, tạo thành cặp Tả Thanh long Hữu Bach hổ có tác dụng tụ và điểu tiết Khí.
2) Phù hiệu trạm khắc đá: Thường là các phiến đã khắc rồng mây hoặc các phiến đá khắc chữ. Khi trạm khắc hình và chữ trên đá với tâm ý sẽ dùng để hoá giải việc gì đó thì ý nghĩ của người thợ sẽ tạo được khí lực tụ vào sản phẩm của mình. Còn khi trạm khắc chỉ với tâm ý bán sản phẩm, thì sản phẩm này chí có giá trị điều chỉnh trường khí theo hình trạm khắc mà thôi. Thí dụ sản phẩm đá khắc rồng ở đền Đô Bắc Ninh (Hình 7.11) có thể điều chỉnh dòng khí tác động vào nó theo các đường cong của rồng và mây theo nguyên lý ‘Khúc hữu tinh’. Các Phù hiệu này thường đặt ở các lối ra vào nhà hoặc đình chùa có tác dụng điều chỉnh khí rất mạnh.

Phù hiệu học 1

Phép trấn bàng Phù hiệu
Đó là phép dùng Phù hiệu để trấn an, biến hung thành cát. Mục tiêu của phép trấn bằng Phù hiệu có thể là để thanh lọc khí (như đặt các tượng rồng, phượng trên mái nhà là để thanh lọc bớt tà khí vào nhà), hoặc để trừ tà. Có thể là trấn phương vị hoặc trấn thời gian.
Trấn Phù phương vị là cách đặt Phù hiệu tại một vị trí của nhà, như ở cổng nhà, cửa nhà, đường vào nhà, nóc nhà, góc nhà, hay ở vị trí mà góc nhà khác chọc thẳng vào, hoặc ở những chỗ không hợp lý của nhà v.v… để tránh sát. Có thể dùng các loại Phù hiệu như: Thạch cảm đương, sơn hải trấn, đối tàng (như sư tử, cột hoa biểu), gương, bình phong, bảo hồ lô, thái cực đồ, bát quái đồ, văn tự, các loại cây…
Trấn Phù thời gian là phép dùng Phù hiệu để trấn an trong thời gian nào đó. Thí dụ khi động thổ mà phải ngày xấu thì có thể dùng Phù hiệu văn tụ để trấn, cầu mong biến hung thành cát.

Khái niệm “sơn hoàn thuỷ bão tất hữu khí”

“Sơn hoàn Thuỷ bão tất hữu khí” có nghĩa là nơi có núi bao vòng, nước uốn khúc thì tụ khí. Cũng có thể hiểu khí dừng ở những nơi có núi bao và nước bị chặn. Có thể coi đây là một định luật trong lý thuyết văn hoá xây dựng phương Đông [63, 86], Điển hình của vùng Sơn hoàn Thuỷ bão ở nước ta là vùng Đồng bằng Bắc bộ. Nơi đây có dãy Hoàng Liên Sơn cao trên 3000m ở phía Tây, Tây Bắc, phía Nam có sông Hồng, là những điều kiện để tụ khí. Phía Đông lại có biển nên khí đến đây thì dừng, không bị tán đi, và tụ lại ở vùng đồng bằng. Đây là khu vực mà đất có mùi thơm của đất, cây có màu xanh của cây, khí có trường sinh của khí. Đó là một vùng đất quý, cái nôi của nền kỹ nghệ lúa nước phát triển ở nước ta hàng ngàn nãm nay. (Rất tiếc, vậy mà những năm gần đây trào lưu đô thị hoá đã chiếm đi quá nhiều đất của vùng lúa thiên phú này!).
Điển hlnh thứ 2 của Sơn hoàn Thuỷ bão ở nước ta là khu vực TP Huế. Phía Bắc khu vực thành phố có sông Hương uốn khúc vừa tụ khí, vừa giữ khí. Phía Nam, Đông và Tây là các dãy nũi bao vòng. Khu vực thành phố lại nhìn ra một minh đường thoáng rộng để đón khí. Với một khu vực như vậy là có đủ điều kiện để tụ khí theo nguyên tắc “Sơn hoàn Thuỷ bão tất hữu khí”. Do đó khu vực TP Huế vẫn luôn là một khu vực thịnh vượng
của một đô thị, một thời là kinh đô. Đủ thấy người xưa chọn vị trí kinh đô Huế là có luận cứ như thế nào.
Sơn hoàn – núi bao vòng
Nhìn lại các Hình 2.5 và 2.6 ta thấy khí cuộn tụ vào khu vực có núi bao vòng như một tay ngai. Ta gọi đây là vùng đại khí. (Vùng đồng bằng Bắc bộ hay khu vực TP Huế cũng là những vùng đại khí). Núi ở đây cần hiểu không chỉ có núi, mà có thể là một vùng có gò đồi, vùng có mái đất cao ôm vòng (như con đê chẳng hạn), đường ô tô, dãy đất đắp vv… Sơn hoàn cũng có thể là một vùng đất có luỹ tre ôm vòng, hay một miếng đất có tường bao quanh. Ta gọi đây là vùng trung khí (hình 2.6). Người xưa đắp luỹ tre quanh làng không chỉ có ý nghĩa bảo vệ làng, mà còn có ý nghĩa tụ Khí vào làng. Quả là một việc làm rất thông minh! Sơn hoàn không chỉ nói đến núi, mà còn có cả hồ. Hồ nước với đất xung quanh cao dần đã tạo ra một vùng Sơn hoàn không phải tay ngai bao vòng mà là một bao vòng lòng chảo, như một ăng ten Viba. Vì vậy vùng đất quanh hồ là vùng tụ khí. Hồ cũng có thể là hồ tự nhiên, cũng có thể là hồ do con người đào mà thành. Điều dó cho thấy Sơn hoàn có thể có từ kiến tạo tự nhiên, cũng có thể có do con người tạo ra (như đắp gò, đắp đê, đắp đường, đào hồ, đào ao, xây tường, xây nhà có hình vòng cung, xếp nhà hình chữ u vv…). Vậy Sơn hoàn có thể được dùng như là một biện pháp Điều chỉnh trong xây dựng nhà, nhằm tạo được một khu ở có vượng khí. Hình 7.8 là thí dụ ứng dụng nguyên lý “Núi bao vòng” (núi hình tay ngai). Ta có thể tạo tay ngai bằng nhiều cách như: Đắp gò bao vòng (Hình 7.8.a); Trồng cánh rừng 2 bên nhà (b); bố trí cụm công trình hình tay ngai (c); xây tường bao quanh nhà (d); làm nhà có mặt bằng hình cong (e) hay hình chữ u (f) v.v… 

Khái niệm “sơn hoàn thuỷ bão tất hữu khí” 1

 Thuỷ bão – nước uốn cong
Nhìn lại hình 2.7 ta thấy những vùng có dòng sông uốn cong ôm vòng thì tụ khí. Hà Nội là vùng đất điển hình cho tính chất này. Dòng sông Hồng chảy uốn khúc tại khu vực vành tai (Hình 2,8) đã làm dòng khí chuyển động theo nước bị dừng đột ngột và tụ vào khu vực Hà Nội. Đó là vùng đại khí, một vùng đất rất rộng lớn. Muốn có vùng đất tụ khí nhỏ hơn để cho khu dân cư sinh sống thì phải có những nhánh sông nhỏ uốn khúc nối với sông Hồng. Vì vậy người xưa còn tạo dựng hệ sống sông nhánh của sông Hồng như sông Nhuệ, sông Tô lịch, sông Kim ngưu. Đó là những dòng sông uốn khúc tạo ra rất nhiều vùng tụ khí cho Hà Nội. Rất tiếc hiện nay hệ thống sông Tô lịch này đã không còn giữ được. Thật là một tổn thất lớn về môi trường ở. Thuỷ bão nêu trên là do thiên nhiên tạo ra. Con người cũng có thể tạo ra Thuỷ bão như đào sông, ngòi, lạch theo mô hình uốn cong, ôm vòng. Như vậy Thuỷ bão cũng có thể coi là một biện pháp Điều chỉnh trong xây dựng để tạo một vùng ở tụ khí.

 

Cơ sở của văn hoá phương đông trong xây dựng nhà

1. Nền tảng lý luận của vãn hoá phương Đông trong xây dựng nhà
Nền tảng lý luận của vãn hoá phương Đông trong xây dựng nhà là tìm kiếm một thế của đất và nước có khả năng tụ khí trong một vùng địa lý nhất định để định vị nhà. Thế đất và nước này thường là có tự nhiên, nhưng cũng có thể do tác động của con người tạo nên. Thí dụ con người có thể đào sông, đắp núi, cũng có thể bạt núi ngăn sông.
Đất có thể là đất đồng bằng, gò đồi, núi, sông suối, lạch, khe. Nước có thể là nước ngầm hay nước mặt. Nước có Nguồn, có Bến, lại có Đạo. Nguồn là nơi nước từ đấy mà di, gọi là đầu nguồn. Bến là nơi nước hội tụ, có thể là biển, sông, hồ, đầm, ao. Còn Đạo là đường đi của nước. Nước có đặc điểm là chuyển vần và lan toả liên tục. Nước chuyển vần từ chỗ cao xuống chỗ thấp. Khi thấp hết mức rồi thì hội tụ và bắt đầu quá trình lan toả theo mọi phía theo hướng từ chỗ ẩm tới chỗ khô. Vì vậy nó có thể lan toả lên trên (bốc hơi), xuống dưới, hoặc ra xung quanh.
Khi nước chuyển vần thì khí đi theo. Nước mặt chuyển vần (chảy) mạnh thì dòng khí đi theo cũng mạnh, ta dễ cảm nhận được nó. Thí dụ khi nước sông chảy xiết thì ta thấy có dòng khí cũng chạy theo phía trên. Nước ngầm chuyển vần chậm thì khí cũng đi theo nhưng nhẹ nhàng, khoan thai, làm ta khó cảm nhận được là có dòng khí. Vì vậy trong vãn hoá xây dựng phương Đông người ta nói nhiều đến mối quan hệ Khí và Nước. Nước chảy khí theo, nước tụ khí dừng. Nhưng vì đất có vai trò dẫn đạo của nước, thế đất quyết định đường đi của nước, nên quan sát địa hình đầu tiên là phải quan sát thế của đất. Người xưa gọi đó là quan sát long mạch.
2. Vận dụng lý luận văn hoá phương Đông trong xây dựng nhà
Đó là nghệ thuật vận dụng quá trình giao lưu giữa nước và khí để tìm nơi tụ khí. Cho nên, có thể nói bản chất của lý luận xây dựng nhà của phương Đông là nghệ thuật tìm ra nơi tụ khí. Muốn vậy trước tiên phải xem thế của đất. Từ thế của đất mới biết đường đi của nước để nhận biết được dòng khí sẽ quy tụ về đâu. Nơi nào tụ khí, tức khí vượng, thì nơi đó thịnh vượng, nhà ở thì tăng tài lộc, nơi thờ cúng thì linh thiêng. Đó là cái rốn khí của vũ trụ, còn gọi là Huyệt của khí. Huyệt có thể tụ khí từ trên xuống (dương khí) hoặc từ dưới lên (âm khí). Cũng có thể đồng thời cả trên xuống dưới lên, tức là kết hợp cả âm và dương khí. Huyệt có thể có sẵn trong thiên nhiên do thế đất tạo ra, cũng có thể do con người tạo ra, vì con người có thể cải tạo thế đất (như đắp núi, gò đồi, đào sông hồ ao). Đối với người xây dựng thì huyệt này là nơi tốt nhất để đặt nhà, đình chùa, cung điện, lãng mộ… Cho nên người xưa phải cố công tìm ra nơi có huyệt vượng là vì như vậy. Vì sao có chùa người đời thấy là thiêng, lại có chùa thấy không thiêng, trong khi các chùa đều cùng thờ Phật? Đó là vì nơi này có huyệt vượng, nơi khác lại không. Một chùa mà tâm nhà chùa hoặc sân chùa đặt vào nơi huyệt vượng thì khách vãng lai tự sẽ kéo đến chùa, mà không cần ai bảo ai cả. Người ta cảm thấy chùa này thiêng.
Để tìm được huyệt vượng, người ta phải kết hợp đồng thời một số giải pháp như: quan sát long mạch, quan sát hướng, thực hiện long cục thuỷ pháp trường sinh V. V… Đây là một việc rất khó, người có sở trường và nhiều kinh nghiệm mới có thể làm được. Càng về sau người ta không chỉ dừng ở việc tìm ra nơi tụ khí, mà còn tìm cách để tụ được khí. Vì vậy có thể nói mục tiêu của việc vận dụng văn hoá phương Đông trong xây ditng nhà là tạo dần trường Khí vũ trụ đến với cuộc sống thường ngày của con người.