Bàn về lục Thần

Thanh long lâm Thuỷ Mộc hào Tài là có vợ tốt, của nhiều.
Thanh long quý nhân lâm hào trạch (hào 2) là nhà đại cát.
– Thanh long lâm Tài, Tử thì tốt.
Thanh long động thì nên dời chuyển nhà.
– Thanh long ở quẻ Hạ không có Tài là trước giàu sau nghèo. Ngược lại ở quẻ Thượng thì trước nghèo sau giàu.
Thanh long lâm Quan, lại có hào Thiên ất quý nhân thì lợi vể đường quan chức. Chu tước lâm Quan quỷ động thì trong tuần sẽ có cãi vã kiện tụng.
Chu tước động, Nhật kiến nguyệt sinh thì có thể sinh hoả hoạn.
Chu tước gặp tuần không, tử, tuyệt là có tai hoạ về việc quan.
Chu tước nội động là có thị phi, ngoại động lâm quý nhân là có tin mừng về giấy tờ. Câu trận, Huyền vũ lâm Thê tài thì phụ nữ dễ gặp điều xấu.
Câu trận lâm Nguyệt kiến gặp Quan quỷ nội động thì là thổ thần không yên. Nếu ngoại động thì mưu việc gì cũng khó khăn. Nếu lâm Tài động khắc Thế thì trong tháng đó có tiến tài.
Câu trận lâm Nhật kiến vượng là tăng điển nghiệp.
Phi xà ở hào 4 lại động thì trong nhà thấy có việc quái dị.
Phi xà nội động thì người làm thuê hoặc trẻ con đi mất. Nếu ngoại động lâm Quan quỷ thì đề phòng mất trộm.
Phi xà lâm nguyệt kiến là sẽ gập chuyện không hay.
Phi xà lâm Thế hoặc khắc Thế thì chủ nhà đêm ngủ không yên. Nếu khắc ứng thì người mẹ đêm ngủ không yên.
Bạch hổ lâm Tử thì chủ nhà khó an toàn. Bạch hổ ở hào 3 là nhà có người xuất gia làm tăng ni.
Bạch hổ làm tổn thương Thanh long là chồng mất.
Bạch hổ ớ quẻ ngoại thì nên ở nguyên chỗ cũ. Bạch hổ lâm Quan động thì phải đề phòng tai hoạ cho người nhà.
Bạch hổ lâm Quan quỷ, huynh đệ thì nhà đó xấu.
Huyền vũ lâm Huynh đệ thì là nước ao đầm ngấm vào nền nhà.
Huyền vũ sinh vượng lâm Phụ mầu thì công việc làm ăn dễ dàng, nếu hưu tù thì việc hay trắc trở.
2. Bàn về hào Thế hào ứng
Thế ứng nên tương hoà thì tốt, tương khắc tương xung thì không lợi.
Gặp quẻ Du hồn là chỗ ở không cố định. Du hồn hoá sang Quy hồn là dời đi rồi lại trở về thì tốt.
Thế bị hào lâm năm tháng, ngày khắc thì gia quyến nguy hại, bị Thái tuế khắc thì quanh năm tai hoạ, bị Nguyệt khắc thì tai hoạ mấy tháng liền.
Hào Thế, hào Thân gặp Tuyệt lại ở tuần không vong, bị hào Quan khắc là có nỗi lo sợ về chết chóc.
– Thế sinh Tài thì được người vợ nội chợ tốt.
3. Một sô thí du vê dự đoán nhà
Dưới đây là một «ô’ thí dụ được trích từ các tài liệu tham khảo, và của tác giả để minh hoạ về phân tích các hào .rong quẻ Dịch để dự báo về nhà.
a) Thí dụ 1: Ngày Kỷ Tị, tháng Mậu Tuất đoán cát hung cho một nhà, được qué chủ Thuỷ Sơn Kiển, quẻ biến Phong Hoả Giai nhân [7].

Bàn về lục Thần 1

Phân tích:
Quẻ Chủ: hào đầu Thìn Thổ Phụ là nền nhà lâm Mộ (Thuỷ Thổ đồng cục- Thân Tý Thìn), Phụ mẫu cũng là mộ địa, lại gập Phi xà chủ về quái dị nên dưới nền nhà có mộ.
– Hào 1 Thìn Thổ động xung hào 5 Tuất Thổ (hào nhân khẩu), Thìn xung Tuất, nên nhà này người ở không yên.
Hào 2 Ngọ Hoả Quan là nhà lâm Quan quỷ, lại ở quẻ nội Cấn là quỷ môn nên nhà thường có việc kinh dị.
Hào 2 Ngọ Hoả Quan Mộ ở Tuất (Dần Ngọ Tuất), nên ở phía Tây nhà nên xây một phòng nhỏ (như ngôi mộ) thì sẽ sống yên ổn.
b) Thí dụ 2: Ngày Nhâm Tý, tháng Kỷ Mão dọn đến ở nhà mới, xem ở có tốt không. Gieo được quẻ Chủ Sơn Địa Bác, quẻ Biến Sơn Thuỷ Mông [7].

Bàn về lục Thần 1

Phân tích:
Hào tài ở quẻ Thượng, Thanh long lâm hào trạch (hào 2) là nhà đại cát.
Hào Tài nhiều, được Nhật sinh (Thuỷ sinh Mộc), Nguyệt kiến, hào Tử- Thế sinh Tài nên nhà giàu hào kiệt.
Trong quẻ Mộc nhiều, lại vượng do được Nhật sinh, Nguyệt kiến, lại xem vào mùa Xuân (tháng 2) nên Mộc vượng, là chủ nhân thanh tú.
Thanh long lâm Quan, Mão Mộc là hào Thiên ất quý nhân (hào Tị, Mão) được nguyệt kiến nên chủ nhà lợi về quan chức.
Tý Thuỷ Thế sinh Tài Mộc nên được người vợ nội chợ tốt.
Trong quẻ có 2 hào Phụ mẫu, được Quan-Ư động sinh nên vượng vế mật văn thư. Hào Quan lâm trạch sinh Thân quẻ (quẻ Cấn) là nhà hưng vượng. Nhưng Quan lâm trạch động cũng là nhà thuê mượn không ở lâu được. Quẻ biến Ư khắc T nên ở về sau sẽ khó khăn.
Hào Tử tôn tử địa (Tù vào mùa Xuân) lại không có hào Huynh sinh trợ nên đời sau không vượng.
Hào Quan nằm ở cung Khôn nên mồ mả tổ tiên không yên.
Hào Quan động lâm Hoả thì phải đề phòng có hoả hoạn.
Trong quẻ không có hào Huynh sinh cho Thể (hào người) là anh em không nhờ được nhau.
Trong quẻ Chủ có 5 hào Âm, 1 hào Dương là âm khí nặng nên dễ bị gặp nạn vì đàn bà. Cần có hoá giải để tránh cô Âm thì ở mới tôt.
c) Thí dụ 3: Ngày Tân Tị, tháng Canh Tuất, năm Đinh Hợi 2007 có người đến xem nhà ở có điều gì không. Lập quẻ (bằng gieo đồng tiền) được quẻ Chủ, quẻ Biến như sau:

Bàn về lục Thần 1

Kết luận: Nhà ở làm ra tiền, có phúc thần phù trợ, trong nhà luôn có điều gây phiền nhiễu, ở không yên, tài lực thất thoát. Cần giải cứu ngôi mộ dưới nhà, trông vào trợ giúp của Thần linh và gia tiên thì nhà ở sẽ tốt. Mạnh dạn giải cứu thì sau sẽ vui vẻ.
Nghiệm: Chủ nhà cho biết luôn cảm thấy ở không yên ổn, trẻ con ngủ không yên, thường hay khóc thét trong đêm, người lớn thì luôn thấy căng thẳng, sức khoẻ giảm sút. Vợ chồng rất phiền não việc cơ quan. Thậm chí có đơn kiện khi được thăng chức. Đúng là cũng làm ăn ra tiền, nhưng cũng thường bị thất thoát không đáng có. Sau này đã tìm thấy mộ dưới nền nhà và đã giải cứu ngôi mộ này.
d) Thí dụ 4: Vào giờ Tý, ngày mồng 1- Mậu Thân, tháng 10 Tân Hợi, năm Đinh Hợi 2007 có người hỏi định đầu tư một cơ sở sản xuất trên miếng đất mới mua, liệu có được tài không. (Đây là một thí dụ có sử dụng hào Dụng thần).
Căn cứ vào giờ ngày tháng năm nêu trên được quẻ Chủ Sơn Địa Bác, quẻ Biến Thuần Khôn. An các hào có như sau:

Bàn về lục Thần 1

Nhũng yếu tố hỗ trợ dự đoán

Sao Quý nhân
Quý nhân, còn gọi là Thiên ất quý nhân, là hào có Chi tương ứng với Can của ngày dự đoán. Cụ thê như sau:

Nhũng yếu tố hỗ trợ dự đoán  1

Quý nhân thường xem cho hào Dụng thần, Thế. Thí dụ: Dự đoán vào ngày Ât, Ký mà Dụng thần là Tý hoặc Thân thì Dụng thần là có Quý nhân. Nguyên thần là Tý, Thân thì Dụng thần cũng gọi là có Quý nhân. Khi có Quý nhân thì dự đoán sẽ tốt lên, nếu sự việc xâu thì cũng đỡ xấu đi. Nếu Quý nhân là hào Kỵ thần thì dự đoán sẽ xấu hơn.
Sao Mã
Sao Mã thường dùng xem người xuất hành hoặc người đi xa.
Sao Mã dược quy định như sau:
Dự đoán ngày Thân, Tý, Thìn – Sao Mã ở Dần.
Dần, Ngọ, Tuất – — Thìn.
Tị, Dậu, Sửu – Hợi.
— Hợi, Mão, Mùi – — Tị
Đi công tác xa mà có sao Mã ở hào Dụng thần, Thế thì tốt.
Sao Đào hoa
Đào hoa tốt cho việc hôn nhân, cầu tài lộc. Dụng thần vượng gặp Đào hoa thì sự việc sẽ tốt. Đào hoa được quy định như sau:
Dự đoán ngày Dần, Ngọ, Tuất- Đào hoa ở Mão.
Tị5 Dậu, Sửu – Ngọ.
Thân, Tý, Thìn – – — Dậu.
Hợi, Mão, Mùi Tý
Sao Hoa cái
Sao Hoa cái được quy định như sau:
Dự đoán ngày Dần, Ngọ, Tuất – Hoa cái ở Tuất.
— — Tị, Dậu, Sửu Sửu.
— Thân, Tý, Thìn – Thìn.
Hợi, Mão, Mùi – Mùi.
Nếu Dụng thần, Thế gập Hoa cái thì sự việc được giúp đỡ. Nếu xem về người thì là người tu hành.
 Quái Thân và hào Thân
Quái Thân và hào Thân trợ giúp cho Thế (T) và Dụng thần (DT) theo nghuyên tắc
sau đây:
Hào T, DT tốt: quái Thân và Thân hào tốt thì độ tốt tăng lên;
Hào T, DT tốt: quái Thân và hào Thân xấu thì độ tốt giảp đi;
Hào T, DT xấu: quái Thân và hào Thân tốt thì độ xấu giảm đi;
Quái Thân là tính cho cả quẻ, hào Thân chỉ tính cho hào đó.
Cách tìm quái Thân:
– Tim quái Thân căn cứ vào tính chất Âm Dương của hào Thế (T)
– Hào T Dương thì chi Tý dặt tại hào sơ (hào 1)
– Hào T Âm thì chi Ngọ đặt tại hào sơ.
Tính thuận các Chi Tý, Sửu, Dần Mão… từ hào 1 đi lên, đến hào T thì dừng. Quái nào có hào chùng tên Chi vừa đến ở hào T thì gọi quái đó là quái Thân.
Thí dụ: Ta có trùng quái Trạch Hoả Cách gồm quái Thượng là Đoài, quái Hạ là Ly. An các lục thân hào và tìm quái Thân ta có như sau:

Nhũng yếu tố hỗ trợ dự đoán  1

Vì hào T Dương, nên đặt chi Tý tại hào sơ. Ta tính từ dưới lên: Tý, Sửu, Dần, Mão, gặp hào T thì dừng lại. Ta thấy hào sơ thuộc quả Ly có chi Mão cùng Chi với Chi Mão vừa đến hào T, nên quẻ Ly là quái Thân.
Cách tìm hào Thân:

Nhũng yếu tố hỗ trợ dự đoán  1

Xem thêm: Bán nhà Hà Nội dưới 1 tỷ

Lập quẻ Dịch theo tượng quẻ

Có 8 quẻ là: Càn Đoài Ly Chấn Tốn Khảm Cấn Khôn. Biểu tượng của 8 quẻ này được thể hiện trong Bảng 8.10. Tám quẻ này cùng với số tương ứng của nó được dùng để lập một trùng quái.
a) Lập trùng quái Chủ (Gốc)
Trùng quái Chủ được lập bằng cách lấy trực tiếp các tượng quẻ đơn đặt trên dưới nhau để được một trùng quái (quẻ kép). Có nhiều cách khác nhau để chọn tượng quẻ, thí dụ như:
Dùng Hướng nhà và Sơn nhà lập thành một Trùng quái. (Đặt Hướng trên, Sơn dưới). Thí dụ: Nhà Sơn Tý Hướng Ngọ. Ta biết Tý nằm ở phương Bắc trong Hậu thiên bát quái do quái Khảm quản, còn Ngọ ở phương Nam do quái Ly quản, Vậy ta được quẻ Hoả Thuỷ Vị tế (Ly trên Khảm dưới):
Dùng Hướng nhà phối với Mệnh tinh của chủ nhà thành một trùng quái, quái Thượng là mệnh chủ, quái Hạ là hướng nhà. Thí dụ chủ nhà mệnh Chấn, nhà hướng Đông Nam (Tốn) ta được quẻ Lôi Phong Hằng (Chấn trên Tốn dưới):
Dùng tượng người hay con vật phối với hướng đi tới lập thành một trùng quái, quái Thượng là người hay con vật, quái Hạ là hướng đi tới. Thí dụ: có một thanh niên đi từ hướng Ly tới đê hỏi xem quẻ.

Dùng hình thái, màu sắc, âm thanh, vị trí, tính chất của sự vật, số nét chữ của họ hoặc tên người xin quẻ v.v… để xác định quẻ dịch. Thí dụ: màu đen thuộc Thuỷ là quẻ Khảm, màu đỏ Hoả thuộc Ly; sự vật lúc xem quẻ thấy tươi sáng là thuộc quẻ Ly, vui vẻ thuộc quẻ Đoài (xem Bảng 8.9). Tuỳ theo kinh nghiệm và sự sáng tạo của người lập quẻ mà vận dụng nhiều cách khác nhau để lập trùng quái Chủ.
Chú thích: Khi lập trùng quái Chủ có thể căn cứ vào số đã có để xác định quẻ (gọi là phương pháp Tiên thiên chiêm quái), hoặc căn cứ vào quẻ đã có để xác định số (gọi là phương pháp Hậu thiên chiêm đoán). Điều này tuỳ thuộc vào điều kiện chiêm đoán.
b) Lập trùng quái Biến
Để lập trùng quái Biến cần phải tìm hào biến trong quẻ Chủ. Trong trường hợp này ta lấy tổng gồm số của quẻ trên cộng với sô’ của quẻ dưới (xem Bảng 8.1) rồi cộng thêm số của giờ lập quẻ, hay giờ người đến hỏi rồi chia cho 6. Số dư chính là hào động biến. Cho hào này biến Âm sang Dương hay Dương sang Âm ta sẽ có được trùng quái Biến.
Thí dụ: quẻ Hoả Thuỷ Vị tế ở trên được lập vào giờ Tị là số 6, số của quẻ Ly là 3, số của quẻ Khảm là 6. Ta có: 3 + 6 + 6 = 15, chia 6 dư 3, vậy hào 3 Âm biến thành Dương. Ta được quẻ biến là Hoả Phong Đỉnh:

Lập quẻ Dịch theo tượng quẻ 1

Bát quái phối Can Chi
Sau khi lập được trùng quái, ta cần phối Can Chi cho tùng hào. Có thể phối theo Thiên Can hay Địa Chi.
1) Phối Thiên can
Phối Thiên can theo bát quái Tiên thiên được áp dụng để lập trùng quái theo Can. Cụ thể nguyên tắc phối như sau:
Quái Càn: Thượng quái phối với Can Nhâm
Hạ quái Giáp
Quái Khôn: Thượng quái phối với Quý
Hạ quái Ất
Quái Đoài: Phối với Đinh
Ly quái: Kỷ
Chấn quái: Canh
Tốn quái: Tân
Khảm quái: Mậu
Cấn quái: Bính

Lập quẻ Dịch theo tượng quẻ 1

Phối Địa Chi
Địa Chi được phối theo nguyên tắc sau:
1. Quái Dương (+) phối Chi Dương (+), bỏ Chi Âm (-)
Quái Âm (-) phối Chi Âm (-), bỏ Chi Dương (+).
2. Phối theo thứ tự từ hào 1 đến hào 6.
Phối Chi (+) bắt đầu từ Tý (thuận chiều KĐH)
Phối Chi (-) bắt đầu từ Sửu (ngược chiều KĐH).
Nguyên tắc phối Địa chi được thể hiện trong Bảng 8.2 và Hình 8.1 dưới đây.
Chú ý: Vì Địa Chi được phối liên tục từ hào 1 đến hào 6, nên việc phối cho các hào 4,5,6 ở quái Thượng cần được tính thứ tự từ hào 1 rồi bỏ qua 3 hào đầu, bắt đầu phối từ hào 4 đến hào 6.

Lập quẻ Dịch theo tượng quẻ 1

 

Xem thêm: Bán nhà nhanh chóng. Dễ dàng. Đăng tin của bạn tại Bán nhà Hải Phòng

Điều chỉnh hướng bàn thờ và hướng lò bếp

Đây là một phương pháp rất nhạy cảm để điều chỉnh trường khí vào nhà khi Hướng nhà gặp Du niên xấu. Điều này có ý nghĩa tích cực trong việc phát triển nhân tài lộc cho người sống trong nhà. Nguyên tắc là hướng bàn thờ và hướng lò bếp phải phối với Mệnh quái chủ nhà để có Du niên tốt. Bàn thờ phải đặt ở cung tốt so với mệnh trạch chủ nhà, còn lò bếp thì đặt ở cung xấu. Ngoài ra, khi Điều chỉnh theo phương pháp này thì cần xem những yêu cầu vể bố trí phòng thờ, bàn thờ, nhà bếp, lò bếp có bị vi phạm gì không. Nếu bị thì phái khắc phục trước khí Điều chỉnh hướng nhà. Thí dụ phòng thờ lại đặt dưới phòng khách, hay áp cạnh nhà vệ sinh, bàn thờ đặt ngay cạnh cửa sổ, hoặc lò bếp đặt trông ra cửa bếp v.v… Khi đó cần khắc phục sao cho vị trí bàn thờ và lò bếp đặt cho đúng yêu cầu, sau đó mới dùng hướng bàn thờ và hướng lò bếp để Điều chỉnh Hướng nhà.
Khi dùng hướng lò bếp để Điều chỉnh hướng nhà thì thường các tài liệu về văn hoá xây dựng phương Đông đều nêu nguyên tắc như sau đây, nhưng không thấy giải thích tại sao:
Hướng nhà lâm Tuyệt mệnh thì đặt lò bếp trông về Thiên y (Thiên y chế Tuyệt mệnh);
Hướng nhà lâm Ngũ quỷ thì đặt lò bếp trông về Sinh khí (Sinh khí giáng Ngũ quỷ);
Hướng nhà lâm Lục sát thì đặt lò bếp trông về Diên niên (Diên niên /Phúc đức yểm Lục sát);
Hướng nhà lâm Hai hoạ thì đặt lò bếp trông về Diên niên; 
  MỘT SỐ THÍ DỤ CỤ THỂ VỂ ĐIỂU CHỈNH ĐÃ ÁP DỤNG
Dưới đây giới thiệu một số trường hợp Điều chỉnh cụ thể để bạn đọc tham khảo. Đây là những thí dụ mà tác giả đã làm, hoặc có thể là những thí dụ sưu tầm trong các tài liệu tham khảo.
1. Nhà ở ngã ba đường phố
Ngôi nhà nằm ở vị trí ngã ba trên đường phố, hoặc ở trực diện cuối ngõ có thể bị dòng khí trên đường (vốn với lượng tà khí lớn) xông thẳng vào nhà. Trong trường hợp nàv có thể dùng một án sơn là một hàng cây thân tròn (Hình 7.19), hay một bức tường chắn xây cong (Hình 7.20), hoặc một bể phun nước để điểu chỉnh dòng khí vào nhà theo đường “khúc”, tạo thành đường Khí chuyển động cong hình chữ s.

Điều chỉnh hướng bàn thờ và hướng lò bếp 1

Đôi với những nhà ở góc phố thì không nên làm nhà sát ra góc phố, mà nên để ra phần đất tam giác góc phô là khu vực cây xanh để tránh tà (Hình 7.21). Cấu tạo hè phô’ rộng cũng là giải pháp cho việc này.
 Nhà đối trực diện với ngõ
Ngôi nhà có ngõ đâm thẳng vào cổng ở tính Bắc Ninh (Hình 7.22), được tác giả gắn Phù hiệu “Nhất thiện” trên trụ cổng cùng với chậu cảnh đặt ở sân, bên ngoài cửa sổ. Dòng khí đi vào nhà khi đó được trừ tà và uốn cong hình chữ s. Chủ nhà ở nhà này gặp thuận lợi, cuộc sống bình thường, kinh tế gia đình phát triển, sinh 2 con, 1 trai 1 gái.

Điều chỉnh hướng bàn thờ và hướng lò bếp 1

 Nhà bị Thiên trảm sát
Ngôi nhà ở Hình 7.23 là ở tỉnh miền Trung VN. Khi tác giả đến thăm nhà đã có nhận xét với chủ nhà: “Nhà ở thế này vợ chồng cãi nhau suốt ngày!”. Nghe thế, cả 2 vợ chồng đểu ngạc nhiên, sao mà đúng thế. Tác giả còn nói rằng nếu các bạn có công ty gia đình thì làm ãn sẽ thất bát, hợp đồng tưởng chừng xong đến nơi, nhưng nó lại bay đi. Hai vợ chồng chủ nhà rất khâm phục nhận xét trên là đúng.

Điều chỉnh hướng bàn thờ và hướng lò bếp 1

 Nhà có cửa phụ đặt ở cung không tốt
Chủ ngôi nhà ở Hà Nội có người con trai cưới vợ đã gần 2 nãm mà không có con. Hai vợ chồng đi khám, được biết không có vấn đề gì. Vậy sao mong mãi không có con? Chú nhà nhờ tác giả xem nhà có vấn đề gì không. Quả nhiên sau khi khảo sát nhà, thấy có cửa phụ trông vào cung Cô quả. Lò bếp cũng trông vào cung Cô quả. Thật là tai hại! Đặc biệt khi xem nhà, tác giả thấy trên tường cạnh cửa phụ này có treo một Phù hiệu. Hỏi ra thì được biết đã có một nhà Phong thuỷ nào đó treo Phù hiệu này từ trước khi người con trai lấy vợ. Như vậy nhà Phong thuỷ này cũng đã thấy cửa phụ lâm Cô quả. Ý đồ đặt Phù hiệu là để khắc phục khiếm khuyết này chăng? Theo nhận thức của tác giả thì Phù hiệu này không đủ công lực để giải được cưng Cô quả của cửa phụ này. Tác giả đã hướng dẫn chú nhà lấp cửa phụ lại, chuyển cửa phụ sang vị trí khác. Đồng thời chuyển vị trí nhà bếp và đật lại lò bếp trông về cung Phúc đức. Quả thật không phụ lòng: sau hơn 1 tháng người con dâu chủ nhà đã có bầu và sau đó sinh một cháu cho ông bà.

 Bàn thờ đặt chưa đúng chỗ
Một Ngân hàng ờ Hà Nội mời tác giả đến xem tại sao kinh doanh thất thường, doanh thu hàng tháng rất thấp, nợ thì khó đòi. Sau khi khảo sát, tác giả nhận thấy cửa chính của nhà Ngân hàng này thích hợp với mệnh của Giám đốc. Tác giả cảm nhận sinh khí vào nhà rất tốt. Tuy nhiên có mấy nhược điểm sau đây:
Bàn thờ tuy được hướng, nhưng đặt sát cửa sổ (Hình 7.25.a); Cửa phòng kinh doanh bị một cột to án ngữ phía trong phòng; Giám đốc ngồi tựa lưng vào góc tường và trông về hướng xấu.

Điều chỉnh hướng bàn thờ và hướng lò bếp 1

Phù hiệu học

Trong kỹ thuật Điều chỉnh nhiều khi dùng đến Phù hiệu, vì vậy ta cần tìm hiểu Phù hiệu học là gì.
Phù hiệu học là lý luận về kỹ thuật điều tiết (thu và truyền dẫn) trường khí bằng các Phù hiệu. Đó là hệ thống truyền dẫn thông tin năng lượng từ vũ trụ tự nhiên đến con người theo nguyên lý “Thiên Nhân tương ínig” (con người và tự nhiên hoà đồng). Phù hiệu không đơn thuần là một bùa chú như nhiều người quan niệm, từ đó hiểu Phù hiệu như là một cái bùa mê tín nhảm nhí, không đáng tin cậy. Thực ra, đây là một tri thức về ứng dụng Phù hiệu vào cuộc sống con người. Phù hiệu học thực chất là kỹ thuật tạo dựng quỹ tích vận động Khí dạng xoắn phục vụ lợi ích cho con người. Có thể nói Khí là linh hồn của Phù hiệu. Vì vậy Phù hiệu còn được gọi là Phù khí. Phù hiệu là sự cụ thê hoá thu nhỏ của mối quan hệ Thiên Địa Nhân. Trong Phù hiệu có năng lượng khí nên nó điều tiết được trường khí trong không gian và trong cơ thể con người. Vì vậy Phù hiệu có thể giúp điều chỉnh môi trường khí trong không gian ở, và có thể chữa được một số bệnh cho người (nhiều khi hiệu nghiệm đáng ngạc nhiên!). Đây là một khoa học và kinh nghiệm của xây dựng nhà của người phương Đông, không phải là việc làm mê tín. Thực tế cho thấy sử dụng Phù hiệu mang lại hiệu quả thiết thực trong việc cải thiện môi trường Khí trong nhà.
Cơ sở của Phù hiệu học là Trường khí xoắn có tính Âm Dương hài hoà, thông qua vòng xoáy trái và phải để thực hiện hiệu ứng trường xoắn vũ trụ. Trường khí này được thanh lọc để tăng Sinh khí, giảm Tà khí trước khi đưa vào môi trường sống của con người. Như vậy Phù hiệu học là một khpa học thu, thanh lọc và truyền dẫn Khí. Đó là cơ sở để dùng Phù hiệu trong kỹ thuật Điều chỉnh trong xây dựng nhà và công trình. Để làm việc này, trong Phù hiệu học người ta sử dụng cả Phù hiệu tự nhiên và Phù hiệu nhân tạo.
 Phù hiệu tự nhiên
Đó là những tồn tại khách quan của tự nhiên, có khá nâng thu phát khí, không phụ thuộc vào con người. Thí dụ sự vận động của cửu tinh (9 hành tinh) trong hệ mặt trời, sự chuyển động của bản thân trái đất quanh mặt trời đã tạo thành trường khí xoắn tác động lên trái đất và con người. Trên trái đất thì những vùng có “Sơn hoàn Thuỷ bão” (núi bao vòng, nước uốn khúc), vùng quanh hồ (như trong một lòng chảo ăng ten viba) là những vùng có khả năng tụ khí. Cây cối trong vùng này luôn xanh tốt. Con người sống trong vùng này thì sẽ khoẻ mạnh, nhân tài lộc phát triển (xem các vùng tụ khí thế hiện trên Hình 2.5 -4- 2.8). Ta biết sự nhấp nhô trùng điệp của núi sông luôn uốn lượn theo hình chữ s. Những chỗ có núi bao vòng như người đưa 2 cánh tay đón lấy, và những đoạn có sông uốn ôm vào là những vùng đất tụ khí rất tốt.
Phù hiệu tự nhiên còn thấy trên động thực vật như vỏ ốc, sên có hình xoắn trái phải, con nhện chăng tơ tạo một chảo ăng ten tụ khí, con chồn bắt mồi bằng cách vẽ vòng tròn nước dãi xung quanh con mồi đế giữ con mồi không chạy được, con ốc bắt con cua cũng bằng một vòng tròn bò quanh con cua v.v… Ở thực vật ta thấy các lá cây thường có mật nhẵn phía trên để nhận khí vũ trụ và mặt dưới ráp để tụ giữ khí, cây bông nớ hoa từ gốc lén ngọn theo vòng xoáy thuận chiều kim đồng hồ, còn cây lúa lại nở hoa từ trên xuống dưới bông theo chiều ngược kim đồng hồ.
 Phù hiệu nhân tạo
Phù hiệu nhân tạo là những Phù hiệu do con người tạo ra. Nguyên lý của những Phù hiệu này là Thiên nhân tương ứng – Con người và vũ trụ hoà đồng. Các loại hình Phù hiệu nhân tạo có thể là: tượng, đá trạm khắc, đồ gốm, đồ đổng, Thái cực đồ, Bát quái đồ, Cửu tinh đồ, giấy vẽ v.v… Mục đích của những Phù hiệu này là tạo dựng một trường khí xoắn hình chữ s tại nơi đặt Phù hiệu. Đây là những mô hình thu nhỏ của Phù hiệu tự nhiên, và có khả năng điều chỉnh trường khí và trừ tà. Vì vậy nó được dùng vào rất nhiều lĩnh vực hoá giải. Ta hãy phân tích một số dạng Phù hiệu nhân tạo.
1) Phù hiệu Tượng: Phù hiệu tượng thường dùng là những tượng hình hnh vật như Long Ly Quy Phượng (Rồng, Lân, Rùa, Phượng hoàng), hoặc hổ, chó V.V.. Các tượng này có thể làm bằng đá, gỗ, đất sét nung, vôi ximãng cát. Các Phù hiệu tứ linh thường được đặt trên mái hoặc tại cửa ra vào đình chùa, vừa là trang trí, vừa điều chỉnh khí vào nhà. Ta hãy quan sát bộ tượng rồng đặt trên mái và bộ tượng rồng đá đặt ở thểm nhà tướng niệm các liệt sỹ Củ Chi (Hình 7.9): Không chỉ là để trang trí, do tương có hình uốn khúc thân rồng, nên sẽ tạo được dòng khí trên mái và thềm vào nhà theo nguyên lý ’khúc hữu tinh’, làm tãng thêm phần sinh khí vào nhà. Người ta cũng có thể đặt hai bén nhà tượng rồng và hổ: bên trái đặt tượng rồng, bên phải tượng hổ (tả thanh long hữu bạch hổ) để điều chỉnh khí, hay đặt tượng chó đá ớ cổng nhà đê trừ tà v.v. Hình 7.10 là một tượng Bạch hổ. Tượng này đặt bên phải cửa nhà, phôi với bê nuôi cá bên trái, tạo thành cặp Tả Thanh long Hữu Bach hổ có tác dụng tụ và điểu tiết Khí.
2) Phù hiệu trạm khắc đá: Thường là các phiến đã khắc rồng mây hoặc các phiến đá khắc chữ. Khi trạm khắc hình và chữ trên đá với tâm ý sẽ dùng để hoá giải việc gì đó thì ý nghĩ của người thợ sẽ tạo được khí lực tụ vào sản phẩm của mình. Còn khi trạm khắc chỉ với tâm ý bán sản phẩm, thì sản phẩm này chí có giá trị điều chỉnh trường khí theo hình trạm khắc mà thôi. Thí dụ sản phẩm đá khắc rồng ở đền Đô Bắc Ninh (Hình 7.11) có thể điều chỉnh dòng khí tác động vào nó theo các đường cong của rồng và mây theo nguyên lý ‘Khúc hữu tinh’. Các Phù hiệu này thường đặt ở các lối ra vào nhà hoặc đình chùa có tác dụng điều chỉnh khí rất mạnh.

Phù hiệu học 1

Phép trấn bàng Phù hiệu
Đó là phép dùng Phù hiệu để trấn an, biến hung thành cát. Mục tiêu của phép trấn bằng Phù hiệu có thể là để thanh lọc khí (như đặt các tượng rồng, phượng trên mái nhà là để thanh lọc bớt tà khí vào nhà), hoặc để trừ tà. Có thể là trấn phương vị hoặc trấn thời gian.
Trấn Phù phương vị là cách đặt Phù hiệu tại một vị trí của nhà, như ở cổng nhà, cửa nhà, đường vào nhà, nóc nhà, góc nhà, hay ở vị trí mà góc nhà khác chọc thẳng vào, hoặc ở những chỗ không hợp lý của nhà v.v… để tránh sát. Có thể dùng các loại Phù hiệu như: Thạch cảm đương, sơn hải trấn, đối tàng (như sư tử, cột hoa biểu), gương, bình phong, bảo hồ lô, thái cực đồ, bát quái đồ, văn tự, các loại cây…
Trấn Phù thời gian là phép dùng Phù hiệu để trấn an trong thời gian nào đó. Thí dụ khi động thổ mà phải ngày xấu thì có thể dùng Phù hiệu văn tụ để trấn, cầu mong biến hung thành cát.

Kỹ thuật điểu chỉnh trong xây dựng nhà

ĐIỂU CHỈNH LÀ GÌ ?
Điều chỉnh được hiểu ớ đây là nghệ thuật hóa giải để thay đổi dòng khí vào nhà.
Điều chỉnh cần phải làm khi thấy ngôi nhà không đạt được yêu cầu về sinh khí như mong muốn. Thí dụ: Ngôi nhà nằm trên miếng đất ít tụ khí; hướng nhà và hướng cửa buộc phải đặt ở vị trí không như mong muốn; nhà không cân bằng âm dương khí, v.v… Điểu chỉnh không chỉ là thay đổi cái đã rồi, mà còn dùng cả trong giai đoạn thiết kế mới như là một giải pháp đảm bảo cho công trình luôn được vượng Khí.
Chương 2 đã đề cập đến khái niệm về Khí. Trong đó Khí vào nhà phải đi theo đường Khúc (hữu tình), không đi theo đường Trực (vô tình). Khí vào nhà phải chứa đựng nhiều sinh khí và hạn chế tà khí. Cũng không đê bị tạt khí hay tích tụ khí. Lại còn phải cán bằng Âm Dương khí. Đó là những yêu cầu kỹ thuật mà người thiết kế phái giải quyết. Một khi do hoàn cảnh nào đó mà những yêu cầu trên không đáp ứng được, dẫn đến khí vào nhà không được tốt, thì phải dùng các phương thức khác để điều tiết khí. Đó chính là Điều chỉnh.
Chương 3 còn đề cập yêu cầu Hướng nhà phải phù hợp với mệnh quái của chủ nhà, vì khi đó mới có thể nhận được sinh khí tốt vào nhà. Một khi không đáp ứng được yêu cầu này, Hướng nhà buộc phải đặt không hợp với mệnh chủ, dẫn đến dòng khí vào nhà không được tốt như ý muốn, thì cũng phải điều chỉnh để bù đắp cho Hướng nhà. Đó cũng chính là Điều chỉnh.
Như vậy mục tiêu của Điều chỉnh là thay đổi bằng cách này hay cách khác để nhận được dòng khí tốt vào nhà và cán bằng Âm Dương khí. Điều chỉnh là một khoa học. Ở đây không có gì là thần bí cả, mặc dù có những điểu thuộc về Điểu chỉnh đã có thế giái thích, nhưng cũng có cái còn chưa giải thể thích được.

 TRƯỜNG XOẮN VŨ TRỤ
1. Trường xoán trái
Từ xa xưa loài người đã nhận thức được rằng vũ trụ bao la luôn chuyên động theo đường xoắn và tạo ra một trường khí chuyển động xoắn từ trái sang phải, thuận chiểu kim đồng hồ tác động lên trái đất. Ta hãy lấy một vài thí dụ:
Giải Ngân hà luôn chuyên động xoay phải, ngược chiểu kim đồng hồ. Nhưng nếu nhìn từ trái đất thì sẽ thấy dòng xoay Ngân hà xoáy trái, thuận chiểu kim đồng hồ.
Hình 1.7 là sơ đồ sao Bắc đẩu đứng yên với 9 ngôi sao trong chòm sao này quay quanh sao Bắc đẩu theo chiểu thuận kim đồng hồ. Do trái đất tự quay quanh nó từ Đông sang Tây xoắn phải, ngược chiều kim đồng hồ, nên ta dễ cảm nhận được dòng xoáy vũ trụ từ sao Bắc đầu là xoắn trái, thuận chiều kim đồng hồ.
Những hiện tượng tự nhiên thường thấy cũng có trường xoắn trái như: Dòng nước dâng hay các cơn bão ở Bắc bán cầu đều chuyển động xoay ngược chiều kim đồng hồ (ở bán cầu Nam thì ngược lại, thuận chiều kim đồng hồ); Nhiều vỏ trai, ốc, hến cũng có hình xoắn trái thuận chiều kim đồng hồ; Cây hoa Khiên ngưu mọc và bò lan ngược chiều kim đồng hồ; cây nho vận trái để leo lên giàn; cây bách, cây tùng vặn mình vươn lên theo kiểu xoắn ốc; Con nhện chăng mạng theo chiều ngược kim đồng hồ, sừng trâu, sừng dê cũng phát triển xoắn ốc và cong 2 chiều đối xứng thành đôi v.v… [63, 86], Trong khoa học xã hội, người ta cũng quan niệm xã hội loài người phát triển theo quy trình xoắn ốc, tuy có lặp lại, nhưng chu kỳ sau tiến bộ hơn, hoàn chỉnh hơn.
Quy luật mọc ra của cây: Quan sát các mầm non của lá ở ngọn cây, ta thấy cứ từng lá một mọc ra theo 2 vòng soắn thuận và ngược chiều kim đồng hồ. Quan sát sự sắp xếp các cánh hoa của một bông hoa hồng ta cũng thấy: các cánh hoa trên một hàng ngang được xếp tiến lên theo vòng tròn thuận chiều kim đồng hồ. Còn các cánh hoa của các hàng thì được xếp tiến lên theo ngược chiều kim đồng hồ. Như vậy nếu có một dòng khí tác động lên ngọn cây hay lên mật hoa hồng thì sẽ tạo thành dòng xoáy vừa đi nghịch, vừa đi thuận chiều kim đồng hồ (Hình 7.1).

Kỹ thuật điểu chỉnh trong xây dựng nhà 1

Hình 7.1. Xếp cánh hoa hồng và hướng chuyển động của dòng khí trên cánh hoa

Từ vấn đề nêu trên ta thấy có thề vận dụng quy luật trường xoắn trái để bô’ trí cụm công trình sao cho tạo được dòng khí chuyển động quanh các công trình thành một
trường xoắn trái, thuận chiều kim đồng hồ. Điều này cho thấy Điều chỉnh là các giải pháp khoa học chứ không phải là thần bí.
Thí dụ: Ta có thể xếp cụm nhà ở như hình 7.2 để tạo dòng khí chuyển động theo vòng xoắn thuận chiều kim đồng hồ. Khi xếp công trình theo nguyên tắc này thì dù quay về hướng nào công trình cũng nhận được gió tự nhiên.

Kỹ thuật điểu chỉnh trong xây dựng nhà 1

Công trình thiết kế quy hoạch trường đại học Kiến trúc TP HCM gần đây của các tác giả [83] đã xếp các công trình theo nguyên tắc xếp bẹ của cây Cần tây để xác định bài toán khí động học là một ứng dụng nguyên lý này.
Quỹ tích hình chữ s
Người xưa còn phát hiện được rằng vũ trụ không chỉ tạo ra trường khí xoắn trái thuận chiều kim đồng hồ, mà còn có quỹ tích xoắn hình chữ s. Ta lấy một số thí dụ:
Trái đất quay xung quanh mặt trời theo một quỹ đạo hình êlíp ngược chiều kim đồng hồ, gọi là Hoàng đạo. Mặt phẳng Hoàng đạo nghiêng với mặt phẳng xích đạo của trái đất một góc 23°27\ Trong đó 2 điểm xa mặt trời nhất là Hạ chí (có ngày dài nhất và đêm ngắn nhất) và Đông chí (có ngày ngắn nhất và đêm dài nhất). Còn 2 điểm gần mặt trời nhất tương ứng với tiết khí Xuân phân và Thu phân có ngày và đêm dài bằng nhau (Hình 7.3). Tuy nhiên trái đất không chỉ quay xung quanh mật trời, mà còn tự quay quanh nó. Vì nó quay nghiêng nên từ mặt trời ta sẽ thấy trái đất quay lúc ngửa lúc cụp, tạo thành tại xích đạo một quỹ tích hình chữ s. Vì thế mới có 4 mùa Xuân Hạ Thu Đông. Đây là một quy luật biến đổi thần kỳ của tạo hoá.

Kỹ thuật điểu chỉnh trong xây dựng nhà 1

Chọn ngày lành cho nhũng công việc khác

Có một số công việc lớn khác trong quá trình xây dựng nhà và ngoài việc xây dựng nhà cũng cần chọn ngày cẩn thận. Đó là các ngày cất nóc nhà, ngày nhập trạch (dọn về nhà mới), ngày sửa chữa nhà cửa, ngày khai trương, ngày xuất hành, cưới hỏi, an táng. Về nguyên tắc có thể áp dụng các bước chọn ngày lành nêu trong mục 6.2. Tuy nhiên mỗi loại công việc cần có những đòi hỏi kiêng kỵ nhất định. Cụ thể như sau:
1. Chọn ngày nhập trạch và cúng nhập trạch
Ngày nhập trạch là ngày dọn về ở nhà mới. Cần làm những việc sau đây:
a) Chọn ngày nhập trạch: Chọn ngày nhập trạch lấy theo tuổi chủ nhà (không lấy tuổi người cho mượn tuổi). Ngày nhập trạch được chọn theo thứ tự ở mục 6.2.5, cũng giống như chọn ngày khởi công, nhưng cần tránh ngày sao kỵ xây dựng, kỵ nhập trạch. Chọn giờ cúng nhập trạch là giờ Hoàng đạo hợp với mệnh chủ nhà. Khi chọn được ngày nhập trạch thì sửa lễ rồi cúng nhập trạch vào ngày giờ đã chọn.
b) Lẻ nhập trạch: Là lễ khi đã làm xong nhà, chuẩn bị dọn đến ở. Tốt nhất nên làm lễ khi đã xong xuôi mọi việc xây dựng, có thể ở ngay được. Trường hợp đặc biệt thì có thể làm lễ nhập trạch khi đã hoàn thiện xong, chỉ còn sơn vôi chưa kịp làm. Sau này vừa ớ vừa hoàn thiện công việc sơn vôi còn lại.
– Kê bàn thờ: Bàn thờ kê trong nhà. Nên kê vào phòng thờ đã dự kiến. Nếu có được bàn thờ đã đặt chính thức thì càng tốt. Không thì kê tạm rồi đặt bàn thờ sau cũng được.
– Đổ lễ: Giống như lễ khi động thổ (mục 6.3.8). Khi chưa dọn đến ở thì cần có những đồ đạc sau đây trong nhà (tượng trưng cho việc dọn đến ở): Một chiếc chiếu sạch, một chiếc chổi sạch, một cái bếp (khi cúng thì đỏ lửa vài phút), một cái soong hoặc nồi, một ít gạo, một ít muối, một ống bình vôi, một chai nước. (Tất cả đồ đạc này có thể cũ hoặc mới đều được). Nên đun một ấm nước sôi mạnh để thanh lọc khí xấu, xin Thần linh được khí tốt.
– Lời khấn: về nguyên tắc cũng giống như khấn động thổ, nhưng lần này là xin phép về nhà mới. Nếu có mượn tuổi thì người cho mượn tuổi phải có mặt tại buổi lễ. Chủ nhà khấn xong thì xin Thần linh, Thổ công cho phép người mượn tuổi chuyển giao nhà cho chủ nhà kể từ ngày hôm nay. Người cho mượn tuổi cũng cần có lời kính cáo tự nguyện trao lại nhà cho chủ nhà. Cúng xong, khi nào dọn đồ đến ở cũng được. Nhưng tối đàu tiên chủ nhà cần ngủ ở nhà mới để Thần linh nhận mặt và xác định chủ quyển. Kể từ đây nếu chưa đến ở thì các ngày rằm, mồng 1 chủ nhà phải đến thắp hương.
 2. Chọn ngày lành cho sửa chữa nhà
Giống như cho xây dựng mới. Nhưng chỉ khi sửa chữa nhà mà có động thố thì mới cần chọn ngày. Nếu sửa chữa nhỏ không động đến đất thì không cần chọn ngày và cũng không cần phải xin phép Thần linh. Khi sửa nhà thì không mượn tuổi. Nếu năm định sứa nhà mà không được tuổi chủ nhà thì cần chọn năm khác.
 3. Chọn ngày lành cho khai trương
Đó là các ngày khai trương công ty, cửa hàng v.v…
Lấy theo tuổi của người chủ khai trương và chọn ngày theo mục 6.3. Trong đó cần tránh ngày có sao kỵ khai trương, sao Thụ tử, sao Sát chủ. Nên chọn ngày phát tài lộc.
 4. Chọn ngày lành cho xuất hành
Thí dụ ngày đi công tác xa. Lấy theo tuổi người xuất hành và chọn ngày theo mục 6.3. Trong đó cần tránh ngày có sao kỵ xuất hành. Cũng không cần quá vị vào hướng
xuất hành sẽ phức tạp. Việc chọn ngày lành cho xuất hành chỉ nên làm cho các chuyến đi xa, như đi nước ngoài, hay đi làm những công việc lớn hệ trọng. Còn đi công tác thông thường trong các vùng miền đất nươc, đi thăm người thân… thì không cần phải chọn ngày, sẽ làm phức tạp thêm cuộc sống.
5. Chọn ngày lành cho cưới hỏi
Lấy theo tuổi người vợ và chọn theo mục 6.3. Trong đó cần tránh ngày có sao kỵ giá thú, sao Cô thần, Quả tú, Ly sào (xem Bảng PL. 6A). Đồng thời tránh các ngày sau đây:
Tránh ngày Nghinh hôn ky nhật. Đó là các ngày: Ât Tị, Tân Hợi, Mậu Thân, Giáp Dần.
Tránh ngày Hồng sa kỵ nhật:
Bốn tháng Mạnh (1, 4, 7, 10): Tránh ngày Tị.
Trọng (2, 5, 8, 11): Dậu. Quý (3,6,9, 12): Sửu.
Tránh ngày cô nhật tuần phòng: Tránh ngày sát:
6. Chọn ngày lành cho an táng
Lấy theo tuổi người chết và chọn ngày theo mục 6.3. Trong đó cần tránh ngày xung sát với mệnh người chết, ngày có sao kỵ an táng. Trường hợp không thể chọn ngày an táng theo ý muốn thì cố gắng chọn giờ tốt để an táng (hạ huyệt).
Đối với trường hợp cải táng thì việc chọn ngày cũng giống như trên. Nên làm gọn trong một ngày vào ban đêm. Chọn lấy 2 giờ: Giờ phá nấm và giờ bốc mộ. Hai giờ này cách nhau khoảng 1-2 h để cho thoát khí hư sau khi phá nấm. Cần đắp mộ mới xong trong giờ đã chọn. Việc xây mộ mới làm sau cũng được. Tại nghĩa trang vào ngày bốc mộ cần có 3 lễ : Một lễ tạ thần linh thổ địa (xin phép về việc bỗc chuyển mộ), hai lễ giành cho người chết: một tại mộ cũ và một tại mộ mới.
Việc cải táng cũng không nên quan niệm là việc nhất thiết phải làm. Người ta khi chết phải về với đất, phải thành tro bụi của đất, nên đào sâu chôn chặt là đủ rồi. Cải táng
nhiều khi làm mất vệ sinh, phiền hà cho con cháu, việc phải làm hãy nên làm (như phải giải toả khu đất, cạnh đường giao thông, mộ bị mối xông v.v…). Những tập tục ngày xưa cũng nên được cải bớt cho phù hợp với thời đại của nền công nghiệp hiện đại. Thí dụ đốt xác vừa đỡ gây phiền hà cho người sống, vệ sinh, mà vong linh người chết cũng dễ siêu thoát.
Vị trí đặt mộ nên ở thế đất tụ khí, nền đất ẩm, đất có mùi thơm. Hướng đặt áo quan hay tiểu hài cốt được xác định bằng trạch quẻ theo trạch mệnh người chết, sao cho trông về hướng Sinh khí hay Thiên y. Các hướng này sẽ tụ được thiên khí tốt, nên hài cốt được ‘tươi’ lâu. Hài cốt là di sản của Ông Bà để lại cho con cháu. Con cháu chăm nom mồ mả Ông Bà thì nhà sẽ có được hồng phúc. Đây không nên hiểu là duy tâm: việc con cháu biết chãm nom mồ mả Ông Bà tức là đã biết nghĩ đến tổ tiên, thế chẳng phải là hồng phúc đó sao ? Nếu không xác định được hướng bằng trạch quẻ thì có thể đặt mộ trông về làng quê hoặc trông về đền chùa nơi gần nhất. Như thế nó đơn giản, không nhất thiết cứ phải đón thày làm phức tạp công việc. Cần chú ý đặt mộ trông về phía thấp của mặt đất tự nhiên. 

 

Chọn ngày cất nóc và lễ cất nóc

1) Chọn ngày cất nóc
Ngày cất nóc là ngày gác thanh giữa của nóc nhà nếu là mái dốc có kèo, hoặc là ngày đổ bê tông sàn mái nếu là nhà mái bằng hoặc mái dốc BTCT. Việc chọn ngày được thực hiện giống như chọn ngày khởi công, theo mục 6.3.4 và 6.3.5.

2) Lễ cất nóc
Việc cúng lễ cũng tiến hành như cúng động thổ. Cụ thể như sau:
– Đối với nhà 1 tầng có mái dốc (có thể có trần hoặc không có trần): Ngày cất nóc là ngày gác thanh giữa của nóc nhà. (Việc lắp vì kèo, xà gồ có thể làm trước. Chỉ chọn ngày gác thanh giữa của nóc nhà mà thôi). Bàn thờ có thể đặt trong nhà hoặc ở ngoài trời đều được. Cúng xong thì chủ nhà trực tiếp đặt thanh giữa của nóc nhà vào giờ cất nóc đã chọn (giống như giờ động thổ). Nếu mượn tuổi thì người cho mượn tuổi làm việc này. Nếu nhà mái dốc có trần bê tông thì cũng không cần cúng ngày đổ bê tông trần. Đối với nhà nhiều tầng có mái dốc thì cũng chỉ cúng vào ngày cất nóc mái, cũng giống như nhà 1 tầng có mái dốc.
– Đối với nhà mái bằng: Ngày cất nóc là ngày đổ bê tông sàn mái. Cúng xong thì chủ nhà trực tiếp đổ xô bê tông đầu tiên vào một vị trí cung hướng đã chọn khi động thổ. Nếu có mượn tuổi thì người cho mượn tuổi làm việc này. Nếu nhà có nhiều tầng thì cũng chỉ cúng vào ngày đổ bê tông sàn mái. Các tầng sàn khác không cần cúng. Việc cúng đổ bê tông cho từng sàn như nhiều công trình vẫn làm lâu nay là không cần thiết và gây phiền phức, lãng phí. (Không thể cúng 20 lần cho một nhà 20 tầng được. Thần linh không yêu cầu như thế !).

Cúng động thổ

Cúng động thổ là một phần công việc cần thiết trong quy trình xây dựng nhà. Nhà nào cũng phải cúng động thổ. Đó là tập quán xây dựng của người phương Đông, trong đó có Việt Nam. Yêu cầu là làm sao việc cúng động thổ được đơn giản, tránh những thủ tục ruờm rà mang tính dị đoan. Dưới đây là một số hướng dẫn cụ thể và chung nhất cho việc này đê bạn đọc tham khảo.
– Kê hàn thờ: Bàn thờ kê ở ngoài trời, đặt tại Tâm đất, hướng vể Tây Bắc hoặc về phương Sinh khí hoặc Thiên y so với mệnh quái chủ nhà (xem bản đồ Trạch quẻ ở Phụ lục 3.). Thí dụ: Chủ nhà sinh năm 1954 thuộc mệnh quái Khảm thì dùng Khảm trạch. Đặt bản đồ Khảm trạch vào tâm bản thờ, xoay cho trục Tý Ngọ trùng với trục hướng Bắc Nam của kim La bàn. Xoay bàn thờ trông về hướng có Du niên Sinh khí hoặc Thiên y trên Bản đồ Khảm trạch. Đối với những khu công trình có diện tích lớn thì nên đặt bàn thờ ở Tâm đất của toàn khu. Việc cúng lễ thường theo phong tục từng vùng [92], nhưng cần đơn giản, miễn là lòng phải thành.

– Đổ lễ: Cần có hương, đãng (lửa châm được hương), nước, rượu, xôi, thịt, hoa, trái cây, trầu cau, gạo muối, tiền vàng mã, tiền thật. Đồ lễ không cần quá nhiều và quá to tát, chỉ cần có đủ thành phần nêu trên. Cúng xong thì hoá tiền vàng mã, tiền thật coi là “lộc” của lễ, sử dụng bình thường.
– Lời khấn: Đối với mọi buổi cúng lễ, khi khấn tâm phải thành. Tâm chưa thành thì chưa lễ. Còn lời khấn thì không cần quá cầu kỳ. Có thể khấn nôm theo tâm ý của mình cũng được. Hiện có nhiều tài liệu phân phát trên thị trường nêu những bài khấn rất cầu kỳ phức tạp khó hiểu, nặng tính dị đoan, làm cho người dân không biết đâu mà lần. Bạn đọc nên hiểu, cái quan trọng nhất khi khấn động thổ là lời khấn xuất phát từ tâm thành của chủ nhà. Khi khấn động thổ thì kính cáo đến các quan Thần linh, Thần long mạch, Thổ công quản khu đất động thổ. Nếu mời được nhà sư hoặc thày cúng đến làm lễ thì càng tốt, không có thì cũng không sao. Chủ nhà cứ thành tâm mà tự khấn, cầu xin cái mà mình mong muốn như: xin phép được động thổ vào giờ nào, xin được sự trợ giúp cho việc xây dựng nhà được thuận lợi, an toàn vv… Nếu mượn tuổi người khác để làm nhà thì khi khấn xin động thổ nhất thiết người cho mượn tuổi phải có mặt. Chủ nhà cần kính cáo rõ họ và tên, nãm sinh của người cho mượn tuổi, và xin được chấp nhận.

– Động thổ: Cuốc vào các vị trí móng nhà thuộc các hướng đã chọn ở trên. Mỗi vị trí cuốc khoảng 3- 5 nhát cuốc. Chủ nhà tự tay bổ nhát cuốc. Nếu mượn tuổi thì người cho mượn tuổi tự tay bổ nhát cuốc, chủ nhà không làm việc này. Cuốc xong nên tiến hành đào móng ngay. Việc xây móng có thể làm lúc nào cũng được. Khi động thổ một khu đất rộng cho một cụm công trình, mà lại cần có đại diện các cơ quan chức nàng tham gia động thổ thì có thể đặt tượng trưng hộc cát động thổ. Nhưng trong giờ động thổ đã chọn, chủ đầu tư vẫn phải tự tay bổ mấy nhát cuốc vào các vị trí đã chọn để động thổ. Khi đó coi cả khu đất như một móng nhà, hoặc có thể chọn móng của một công trình chính để động thổ. Sau này, mỗi khi khởi công hạng mục công trình nào thì cũng nên có lễ động thổ cho công trình đó.

Các bước chọn ngày khởi công xây dựng nhà

a) Ghi các thông tin về tuổi chủ nhà
Thí dụ: Chủ nhà là nam, sinh năm 1971, Tân Hợi, Mệnh niên Kim (vàng trang sức).
b) Tránh trước các ngày không tốt vốn có trong tháng âm lịch: Đó là:
Ngày Sóc: Ngày đầu của các tháng âm lịch
Ngày Nguyệt tận (ngày hối) xấu mọi việc: Đó là ngày cuối các tháng âm lịch;
Tránh ngày Sát:
Tránh ngày có sao Thụ tử + Sát chủ. Ngày này xác định theo Tháng âm lịch như sau (xem thêm trong Bảng PL 6B các ngày có sao Thụ tử, Sát chủ):

Các bước chọn ngày khởi công xây dựng nhà 1

c) Xúc định các ngày cần tránh do xung khắc với mệnh chủ:
Tránh 4 ngày kỵ nêu trong Bảng 6.5
– Tránh các ngày có Hành xung với Hành của mệnh chủ nhà: Ở đây Mệnh niên của chủ nhà là Kim thì nên tránh các ngày có hành Hoả và Mộc (vì Hoả khắc Kim và Kim khắc Mộc). Thí dụ ngày Ngọ (Hoả), ngày Dần (Mộc).
Tránh ngày xung với Can của tuổi chủ nhà: Ở đây Can tuổi chủ nhà là Tân thì tránh các ngày At và Đinh (xem mục 1.2.3);
Tránh ngày có Chi xung với Chi của tuổi chủ nhà. Ở đây chủ nhà có tuổi Hợi, nên tránh ngày Tị (Hình 1.3);
Tránh ngày hình, phạt với tuổi chủ nhà: Tuổi Hợi thì tránh ngày Thân (Thân hình Hợi – Hình 1.4) và ngày Hợi (Hợi Hợi hình- Mục 1.2.3.5).

Các bước chọn ngày khởi công xây dựng nhà 1

Các bước chọn ngày khởi công xây dựng nhà 1

Các bước chọn ngày khởi công xây dựng nhà 1

Trong Bảng 6.5 ta thấy, gần như một quy luật: mỗi tuổi có 4 ngày kỵ sau đây:
Ngày thứ nhất có Can và Chi trùng với Can và Chi nãm sinh của chủ nhà;
Ngày thứ 2 có Can trùng với Can năm sinh, và Chi xung với Chi năm sinh của chủ nhà (xem Bảng 1.3 và Hình 1.3);
Ngày thứ 3 có Can tính được bằng cách đếm xuôi từ Can năm sinh của chủ nhà đến Can thư 7, và có Chi trùng với Chi của ngày kỵ thứ nhất;
Ngày thứ tư có Can cùng với Can của ngày kỵ thứ 3, và có Chi cùng với Chi của ngày kỵ thứ 2.

d) Dự kiên ngày sẽ chọn:
Sau khi đã loại trước các ngày cần tránh nêu trên, ta thấy số ngày còn lại trong tháng để có thê lựa chọn còn lại không nhiều. Đặc biệt khá nhiều ngày Hoàng đạo đã bị loại trừ. Điều đó cho thấy việc chọn được một ngày tốt trong tháng để làm nhà quả là không dễ dàng.
Sau khi đã loại trước các ngày cần tránh nêu trên, tra trong lịch Vạn niên để chọn lấy ngày Hoàng đạo nào hợp với tuổi chủ nhà về Can hoặc Chi (xem mục 1.2.3.3) và không xung với tuổi chủ nhà làm ngày dự kiến sẽ chọn để khởi công. Các tài liệu về Lịch học và thuật Phong thuỷ thường cho sẵn bảng tra ngày và giờ Hoàng đạo [11, 12, 51, 55] (xem Bảng 6.6 và  Khi không được ngày Hoàng đạo mới chọn ngày khác. Tiếp đó tra các bảng sao tốt xấu để biết mức độ tốt xấu của ngày dự kiến chọn. Nếu không đạt mức là một ngày tốt thì chọn ngày khác, và lại kiểm tra các sao trong ngày đó.
Ngày Hoàng đạo là gì ?
Hoàng đạo là tên gọi quỹ đạo trái đất quay xung quanh mặt trời. (Bạch đạo là quỹ đạo mặt trãng quay xung quanh mặt trời). Quỹ đạo này là một hình êlíp, nghiêng với
mặt phẳng Xích đạo trái đất một góc 23° 27’, có 2 điểm gần mặt trời nhất ứng với tiết Xuân phân và Thu phân, và 2 điểm xa mặt trời nhất ứng với Hạ chí và Đông chí. Người xưa đã phân chia đường Hoàng đạo thành 12 cung với 2 phần đối xứng, ứng với 6 cung Hoàng đạo và 6 cung Hắc đạo. Mỗi cung được gắn với một Thần định rõ cát hung. Trong đó, 6 cung Hoàng đạo gắn với 6 Thần tốt gọi là sao tốt (đó là: Thanh long, Minh đường, Kim quỹ, Kim đường, Ngọc đường, Tư mệnh), 6 cung Hắc đạo gắn với 6 sao xấu (đó là: Thiên hình, Chu tước, Bạch hổ, Thiên lao, Nguyên vũ, Câu trận). Ý nghĩa cát hung ở đây cũng là do con người đặt ra, chưa có cơ sở giải thích. Vì vậy cũng có tài liệu không coi trọng việc này. Tuy nhiên vì đã từ lâu tồn tại việc chọn ngày Hoàng đạo, nên tác giả ghi nhận ở đây để bạn đọc tham khảo. Trên thực tế thì thấy rằng vào các ngày Hoàng đạo thường có thời tiết tốt, phù hợp với công tác xây dựng nhà.