Bàn về lục Thần

Thanh long lâm Thuỷ Mộc hào Tài là có vợ tốt, của nhiều.
Thanh long quý nhân lâm hào trạch (hào 2) là nhà đại cát.
– Thanh long lâm Tài, Tử thì tốt.
Thanh long động thì nên dời chuyển nhà.
– Thanh long ở quẻ Hạ không có Tài là trước giàu sau nghèo. Ngược lại ở quẻ Thượng thì trước nghèo sau giàu.
Thanh long lâm Quan, lại có hào Thiên ất quý nhân thì lợi vể đường quan chức. Chu tước lâm Quan quỷ động thì trong tuần sẽ có cãi vã kiện tụng.
Chu tước động, Nhật kiến nguyệt sinh thì có thể sinh hoả hoạn.
Chu tước gặp tuần không, tử, tuyệt là có tai hoạ về việc quan.
Chu tước nội động là có thị phi, ngoại động lâm quý nhân là có tin mừng về giấy tờ. Câu trận, Huyền vũ lâm Thê tài thì phụ nữ dễ gặp điều xấu.
Câu trận lâm Nguyệt kiến gặp Quan quỷ nội động thì là thổ thần không yên. Nếu ngoại động thì mưu việc gì cũng khó khăn. Nếu lâm Tài động khắc Thế thì trong tháng đó có tiến tài.
Câu trận lâm Nhật kiến vượng là tăng điển nghiệp.
Phi xà ở hào 4 lại động thì trong nhà thấy có việc quái dị.
Phi xà nội động thì người làm thuê hoặc trẻ con đi mất. Nếu ngoại động lâm Quan quỷ thì đề phòng mất trộm.
Phi xà lâm nguyệt kiến là sẽ gập chuyện không hay.
Phi xà lâm Thế hoặc khắc Thế thì chủ nhà đêm ngủ không yên. Nếu khắc ứng thì người mẹ đêm ngủ không yên.
Bạch hổ lâm Tử thì chủ nhà khó an toàn. Bạch hổ ở hào 3 là nhà có người xuất gia làm tăng ni.
Bạch hổ làm tổn thương Thanh long là chồng mất.
Bạch hổ ớ quẻ ngoại thì nên ở nguyên chỗ cũ. Bạch hổ lâm Quan động thì phải đề phòng tai hoạ cho người nhà.
Bạch hổ lâm Quan quỷ, huynh đệ thì nhà đó xấu.
Huyền vũ lâm Huynh đệ thì là nước ao đầm ngấm vào nền nhà.
Huyền vũ sinh vượng lâm Phụ mầu thì công việc làm ăn dễ dàng, nếu hưu tù thì việc hay trắc trở.
2. Bàn về hào Thế hào ứng
Thế ứng nên tương hoà thì tốt, tương khắc tương xung thì không lợi.
Gặp quẻ Du hồn là chỗ ở không cố định. Du hồn hoá sang Quy hồn là dời đi rồi lại trở về thì tốt.
Thế bị hào lâm năm tháng, ngày khắc thì gia quyến nguy hại, bị Thái tuế khắc thì quanh năm tai hoạ, bị Nguyệt khắc thì tai hoạ mấy tháng liền.
Hào Thế, hào Thân gặp Tuyệt lại ở tuần không vong, bị hào Quan khắc là có nỗi lo sợ về chết chóc.
– Thế sinh Tài thì được người vợ nội chợ tốt.
3. Một sô thí du vê dự đoán nhà
Dưới đây là một «ô’ thí dụ được trích từ các tài liệu tham khảo, và của tác giả để minh hoạ về phân tích các hào .rong quẻ Dịch để dự báo về nhà.
a) Thí dụ 1: Ngày Kỷ Tị, tháng Mậu Tuất đoán cát hung cho một nhà, được qué chủ Thuỷ Sơn Kiển, quẻ biến Phong Hoả Giai nhân [7].

Bàn về lục Thần 1

Phân tích:
Quẻ Chủ: hào đầu Thìn Thổ Phụ là nền nhà lâm Mộ (Thuỷ Thổ đồng cục- Thân Tý Thìn), Phụ mẫu cũng là mộ địa, lại gập Phi xà chủ về quái dị nên dưới nền nhà có mộ.
– Hào 1 Thìn Thổ động xung hào 5 Tuất Thổ (hào nhân khẩu), Thìn xung Tuất, nên nhà này người ở không yên.
Hào 2 Ngọ Hoả Quan là nhà lâm Quan quỷ, lại ở quẻ nội Cấn là quỷ môn nên nhà thường có việc kinh dị.
Hào 2 Ngọ Hoả Quan Mộ ở Tuất (Dần Ngọ Tuất), nên ở phía Tây nhà nên xây một phòng nhỏ (như ngôi mộ) thì sẽ sống yên ổn.
b) Thí dụ 2: Ngày Nhâm Tý, tháng Kỷ Mão dọn đến ở nhà mới, xem ở có tốt không. Gieo được quẻ Chủ Sơn Địa Bác, quẻ Biến Sơn Thuỷ Mông [7].

Bàn về lục Thần 1

Phân tích:
Hào tài ở quẻ Thượng, Thanh long lâm hào trạch (hào 2) là nhà đại cát.
Hào Tài nhiều, được Nhật sinh (Thuỷ sinh Mộc), Nguyệt kiến, hào Tử- Thế sinh Tài nên nhà giàu hào kiệt.
Trong quẻ Mộc nhiều, lại vượng do được Nhật sinh, Nguyệt kiến, lại xem vào mùa Xuân (tháng 2) nên Mộc vượng, là chủ nhân thanh tú.
Thanh long lâm Quan, Mão Mộc là hào Thiên ất quý nhân (hào Tị, Mão) được nguyệt kiến nên chủ nhà lợi về quan chức.
Tý Thuỷ Thế sinh Tài Mộc nên được người vợ nội chợ tốt.
Trong quẻ có 2 hào Phụ mẫu, được Quan-Ư động sinh nên vượng vế mật văn thư. Hào Quan lâm trạch sinh Thân quẻ (quẻ Cấn) là nhà hưng vượng. Nhưng Quan lâm trạch động cũng là nhà thuê mượn không ở lâu được. Quẻ biến Ư khắc T nên ở về sau sẽ khó khăn.
Hào Tử tôn tử địa (Tù vào mùa Xuân) lại không có hào Huynh sinh trợ nên đời sau không vượng.
Hào Quan nằm ở cung Khôn nên mồ mả tổ tiên không yên.
Hào Quan động lâm Hoả thì phải đề phòng có hoả hoạn.
Trong quẻ không có hào Huynh sinh cho Thể (hào người) là anh em không nhờ được nhau.
Trong quẻ Chủ có 5 hào Âm, 1 hào Dương là âm khí nặng nên dễ bị gặp nạn vì đàn bà. Cần có hoá giải để tránh cô Âm thì ở mới tôt.
c) Thí dụ 3: Ngày Tân Tị, tháng Canh Tuất, năm Đinh Hợi 2007 có người đến xem nhà ở có điều gì không. Lập quẻ (bằng gieo đồng tiền) được quẻ Chủ, quẻ Biến như sau:

Bàn về lục Thần 1

Kết luận: Nhà ở làm ra tiền, có phúc thần phù trợ, trong nhà luôn có điều gây phiền nhiễu, ở không yên, tài lực thất thoát. Cần giải cứu ngôi mộ dưới nhà, trông vào trợ giúp của Thần linh và gia tiên thì nhà ở sẽ tốt. Mạnh dạn giải cứu thì sau sẽ vui vẻ.
Nghiệm: Chủ nhà cho biết luôn cảm thấy ở không yên ổn, trẻ con ngủ không yên, thường hay khóc thét trong đêm, người lớn thì luôn thấy căng thẳng, sức khoẻ giảm sút. Vợ chồng rất phiền não việc cơ quan. Thậm chí có đơn kiện khi được thăng chức. Đúng là cũng làm ăn ra tiền, nhưng cũng thường bị thất thoát không đáng có. Sau này đã tìm thấy mộ dưới nền nhà và đã giải cứu ngôi mộ này.
d) Thí dụ 4: Vào giờ Tý, ngày mồng 1- Mậu Thân, tháng 10 Tân Hợi, năm Đinh Hợi 2007 có người hỏi định đầu tư một cơ sở sản xuất trên miếng đất mới mua, liệu có được tài không. (Đây là một thí dụ có sử dụng hào Dụng thần).
Căn cứ vào giờ ngày tháng năm nêu trên được quẻ Chủ Sơn Địa Bác, quẻ Biến Thuần Khôn. An các hào có như sau:

Bàn về lục Thần 1

Bàn về lục Thân – P1

Quẻ có hào Phụ mấu không có hào Tử tôn là nhà đó hư hao và có nhiều điều phiền não.
Hào Phụ mẫu không vong là nhà không tốt. Phụ, Tử, hào Tài đều vượng là của cải đầy nhà, nếu gặp thiên hỷ Thanh long là nhà phú quý.
Phụ mầu động thì nhà nhiều việc phiền não. Phụ mẫu hưng vượng là đất có hồn khí. Phụ mẫu hoá Thê tài là của cải nhiều. Phụ mẫu tuần không hoặc Thân quẻ động biến thì khó kế nghiệp của tổ tiên.
Quẻ thiếu Tử tôn thì tài hao tán, không chế được Quan (Tử khắc Quan), thì công việc sẽ rắc rối.
Tử tôn lâm Nhật động thì mất chức.
Tử tôn ở hào 5 hợp Phụ mẫu là nhà có con nối nghiệp cha, ngược lại Tử khắc Phụ thì con ngỗ ngược.
Hào Tử tôn lâm tử địa mà không có hào Huynh sinh trợ thì đời sau không vượng. Tài động thì hao tổn và vợ có nhiều bệnh. Nếu động mà khắc Phụ thì nhà không yên ổn, (nhưng không khắc được hào 5).
Hào Tài ờ quẻ Thượng , lại có hào 2 (nhà) lâm Thanh long thì nhà đại cát.
Tài không bị tổn thương lại có hào Tử (sinh tài) thì nhà giàu có vinh hoa.
Tài hưng vượng lại được sinh phù thì nhà giàu và có thế lực. (Hào Tài nhiều, được Nhật Nguyệt sinh phù, lại có hào Tử sinh Tài thì nhà giàu hào kiệt).
Tài được Tử sinh trợ, lại động khẵc Phụ mẫu thì là hại cha mẹ (Phụ Dương thì bố bị khắc, Âm thì mẹ bị khắc).
Tài hoá Tử tôn thì không lợi cho việc thăng quan tiến chức.
Quan quỷ có trợ giúp mà không bị kiềm chế (tức là có yếu tố khắc chế) thì nhà âm thịnh, đại suy.
Quan lâm trạch động là nhà không ở lâu được.
Quẻ có Quan mà không có Tài thì tai hoạ liên miên, có Tài mà không có Quan thì hao tán.
Quan quỷ động lâm Bạch hổ thì nhà hay gặp tai ương. Trong trường hợp này nếu có Tử tôn để kiểm chế Quan quỷ (Tử khắc Quan) thì không sao.
Quan trì Thế có Tài sinh cho là nhà ở tốt. Tài hoá thần phúc (Tử) thì của cải ngày càng nhiều (Tử sinh Tài).
Quan lâm Mộ, hào Thân bị khắc chế thì nhà đó không tốt.
Bốn quỷ (năm, tháng, ngày, giờ) trì Thế lại lâm hào Thân là chủ về tai nạn.
Quan quỷ gặp hào Thân là dưới nền nhà có mộ.
Hào Quan nằm ở cung Khôn (Thổ) thì mồ míả tổ tiên không yên.
Quan động mà không có kiềm chế thì gặp kiện tụng.
Quan vượng lâm trạch (hào 2) lại gặp Thanh long thì là đại cát.
Quan ở cung Khôn, Cấn thì mồ mả tổ tiên không yên, dễ gặp tai hoạ.
Có Quan mà không có Tài thì người trong nhà nhiều bệnh.
Hào Quan động lâm Hoả thì phải đề phòng có hoả hoạn.
Hào Huynh nhiều thì con ngỗ ngược. Nếu Huynh khắc Thế thì quẻ rất xấu.
Trong quẻ không có hào Huynh sinh cho hào 5 trì Thế (hào người) thì anh em không nhờ được nhau.

Nguyên tắc dự báo nhà dựa theo phân tích các hào

Dự đoán bằng phân tích các hào trong trùng quái
Phần này chỉ giới thiệu những tiêu chí dự báo để thấy tình trạng ở của nhà, trả lời cho câu hỏi nhà này ở tốt xấu ra sao (có yên ổn không, có tài lộc không, có mộ dưới nền nhà
hay có gặp quỷ thần không…), mà không đi sâu về tình trạng nhà (như nhà cũ mới, tường vách, thấm dột, vị trí của nhà, hàng rào v.v…).
1. Nguyên tắc dự báo nhà dựa theo phân tích các hào
Khi dự báo về nhà dựa theo phân tích các hào thì việc lập trùng quái Chủ và Biến được thực hiện theo phương pháp dùng năm tháng ngày giờ hoặc phương pháp gieo đồng tiền theo mục 8.2.1. Trong đó coi quái Hạ là nhà, quái Thượng là người (chủ nhà). Nhà sinh cho người thì tốt, ngược lại, người sinh nhà thì xấu.
Khi phân tích dự báo nhà thì không chọn hào Dụng thần, mà phân tích ý nghĩa từng hào trong trùng quái Chủ và trùng quái Biến.
Quy ước về đặc trưng các hào trong trùng quái được nêu trong Bảng 8.12.

Nguyên tắc dự báo nhà dựa theo phân tích các hào 1

Khi dự đoán về nhà thì ý nghĩa lục thân như sau:
Hào Phụ mẫu là rường cột;
Hào Thê tài là nhà bếp, bếp núc;
Hào Huynh đệ là cửa ngõ, hành lang;
Hào Tử tôn là nhà phụ;
Hào Quan quỷ là dinh thự.
2. Những tiêu chí để dự đoán vê nhà
Khi dự đoán về nhà cần phân tích từng hào trong trùng quái, giống như bác sỹ khám từng bộ phận của cơ thể để tìm bệnh. Dưới đây trích một số tiêu trí trong [7],
Đánh giá chung:
Được quẻ vượng thì tốt, quẻ gặp hợp là tốt, gặp tam hình, lục xung là không tốt. Cả sáu hào trong quẻ đều yên tĩnh là nhà ở yên ổn. Nếu trong sáu hào mà động nhiều lại có Thuỷ Hoả thì để phòng có tai nạn về nước lửa.
Tử tôn (tài phúc), phụ mẫu, huynh đệ, quan quỷ ở quẻ Thượng thì tốt.
Hào 2 là nhà, hào 5 là người, hai hào này tương sinh thì tốt. Hào 2 khắc hào 5 (nhà khắc người) là xấu, ngược lại, hào 5 khắc hào 2 thì tốt.
– Trong quẻ Hoả nhiều thì gặp điều phiền não, Mộc nhiều là người thanh tú, Thuỷ nhiều thì phụ nữ vượng, Kim nhiều thì phụ nữ đông, Thổ nhiều (sinh tài) thì tiền của nhiều.
Gặp quẻ Du hồn và quẻ Bát thuần thì tai hoạ liên miên.
Hào Thể Úng lâm Tử, Thanh long, Thiên ất quý nhân, vượng do được Nhật Nguyệt kiến thì tốt.
Trong quẻ Chủ có nhiều hào Âm, ít hào Dương (thí dụ: 5 hào Âm, 1 hào Dương) là âm khí nặng nên dễ bị gặp nạn vì đàn bà.
Sau đây là những tiêu chí dự đoán cho các hào:
Hào 1 vượng tướng là vùng đất ở tốt.
Hào 2 vượng tướng là chỗ đất ở tốt.
Hào 3 vượng tướng là chỗ ở gần chợ.
Hào 4 vượng là ở thị trấn, thành phố.
Hào 5 vượng là ở nơi kinh thành.
Hào 6 vượng là ở nơi rừng núi trung du hoặc vùng nông thôn.
a) Hào 1: Là nền nhà, giếng nước, người làm thuê trong nhà.
Lâm Tài, Tử thì cát, lâm Quan quỷ hay kỵ thần là hung.
Là hào Thổ hoá sang Thổ thì dưới nền đất có mộ.
Lâm Quan quỷ, hay là hào Phụ mẫu động lâm Bạch hổ thì nền nhà gây tổn thương cho con cái hay người làm thuê.
Là hào Quan quỷ lâm Mộ thì dưới nền nhà có mộ cổ. Thí dụ: hào 1 Tị Hoả Quan, dự báo vào ngày Tuất hay tháng Tuất là lâm Mộ (Dần Ngọ Hoá Tuất). Nếu không phải là hào Quan, nhưng lâm Mộ lại gặp Phi xà (chủ quái dị) thì nền nhà cũng có mộ.
Là hào Mộc quan quỷ thì phía bên trái nhà có rễ cây xuyên phá nền nhà.
Hào 1 (nền nhà) xung hào 5 (người) thì người ở không yên.
b) Hào 2 (Hào trạch): Là không gian ở của nhà hoặc bếp.
Là hào Hoả quỷ và Chu tước thì nhà dễ hoả hoạn. Nếu là hào Tài, Tử (Phúc) vượng tướng thì nhà yên và đầy đủ.
Lâm Quan quỷ lại nằm ở quẻ nội Cấn Thổ (là quỷ môn) thì nhà thường có việc kinh dị.
Là hào thuộc Mộc bị Nhật, hào Kim xung khắc thì nhà nghèo. Nếu gặp Kim cục mà bị xung thì cũng nghèo.
Hào 2 không vong lâm hào Thân tuần không là nhà chủ cũ đã bó đi vì ớ không yên. Nếu là Bạch hổ lại thêm hình khắc thì nhà này đại hung.
Là hào vượng lâm Thanh long thì là nhà quan chức.
Là hào Úng thì nhà có người ngoài ở cùng (Dương nam, Âm nữ). Nếu có Đào hoa lâm Huyền vũ thì đề phòng quan hệ nam nữ.
Lâm Kim động là việc công lôi thôi, Mộc động là phong thuỷ xấu,Thổ động là nhà ổn định, Thuỷ động là ở chỗ không tốt bên sông, Hoả động là nơi đường chợ
ồn ào.
Là hào động lâm nguyệt phá khắc hào Thế, hào Thân thì nhà tai vạ liên miên.
Hào Thế lâm Nhật thin (hợp Nhật) khắc hào 2 là chỗ ở không yên.
Lâm Nhật, động sinh hào Thế hoặc hào Thân là nhà ở tốt.
Lâm Quan quỷ thì nên tĩnh, nếu động thì không ở được lâu.
Lâm Tài hoặc Quan gặp Thanh long quý nhân (thì sinh vượng) sinh hợp Thế thì gia đình làm ăn thịnh vượng.
Hào 2 không bị phá, sinh Tài thì thịnh vượng. Nếu là hào Tài, Tử sinh vượng mà sinh hợp hào Thế hào Thân thì gia đạo bền vững.
Bị xung phá thì vợ chồng mỗi người một ý.
c) Hào 3: Là cửa của nhà.
Nếu sinh hợp với Nhật, Thái tuế là hướng nhà có lợi.
Lâm Tài, Tử, Thanh long là có cát thần phù trợ. Lâm Quan quỷ lại Bạch hổ thì hay gặp điều cãi vã, thị phi. Lâm Huynh đệ thì tiền tài hao tán không tụ.
Hào 3 và 4 tương xung là 2 cửa thông với nhau, ít sinh tài.
d) Hào 4: Là cửa giữa, không gian ở.
Gặp Tài, Tử, Thanh long là tốt, lâm Quan quỷ, Chu tước là có việc kiện tụng.
Lâm cát thần động thì tốt, hung thần động thì xấu.
Lâm Quan quỷ hay gặp Phi xà động thì nhà không yên, dễ kiện tụng, cãi vã.
e) Hào 5: Là người, con trai cả.
Lâm Quan quỷ thì vợ chồng dễ sinh ly, gặp Tử tôn thì yên ổn.
Hào 5 khắc hào 2 thì người yên ổn, động mà khắc hào 2 thì không yên.
Lâm Quan quỷ, Bạch hổ, Phi xà thì con trai cả có việc hối tiếc. Bạch hổ động khắc hào 5 là có bệnh nan y khó chữa.
Lâm Tử khắc Phụ mẫu thì con cái không hiếu thảo, lâm Tài trì Thế là phụ nữ lấn át quyền chồng.
Lâm Thê tài tương hợp Quan quỷ là nhà có vợ nội chợ tốt, nếu Tài vượng thì vợ lấn át chồng.
Trong quẻ không có hào Huynh sinh cho hào 5 là anh em không nhờ được nhau.
f) Hào 6: Là nóc nhà, là cha.
Gặp Kim Quỷ hoặc bị Nhật Nguyệt xung là nhà không yên hoặc đói rách.
Lâm Tài, gặp không vong là vợ yếu đuối. Nếu gặp Nhật xung thì vợ có thể bị thiệt mạng.
Cần xem hào 6 có động không: Lâm Huynh đệ động thì vợ chồng không đoàn tụ; ‘ Phụ mẫu động thì con cái có nỗi lo; Tử tôn vượng động thì nhà luôn có niềm vui; Quan quỷ động thì nhiều tai hoạ.

Xem thêm: Bán nhà Hà Nội 2014

Mục đích của dự đoán nhà

Dùng quẻ dịch đế dự đoán những vấn đề sau đây của nhà:
– Nhà mới làm xong, xem ở vể sau sẽ tốt xấu thế nào;
– Nhà sửa xong, xem ở về sau sẽ tốt xấu thế nào;
– Nhà đang ở liệu có vấn đề gì không;
– Xem dự kiến mua hoặc thuê một ngôi nhà hay một căn hộ đã chọn thì ớ có tốt không;
– Xem định mua một miếng đất nào đó để xây nhà ở thì có tốt không;
– Xem ngày đã chọn để khởi công xây dựng nhà, hay ngày nhập trạch vể nhà mới, hay ngày ký hợp đồng mua hay thuê nhà thì có tốt không.
– v.v…
Để có được lời dự đoán cần phân tích số của quẻ, ngũ hành sinh khắc giữa các quẻ và các hào, và phải có lập luận nữa (tức là phải có lý nữa).
 Phân tích mức tốt xấu của hướng nhà so với mệnh chủ nhà
Có 8 Du niên, trong đó có 4 tốt (Sinh khí, Thiên y, Diên niên, Phục vị), và 4 xấu (Hại hoạ, Lục sát, Ngũ quỷ, Tuyệt mệnh). Hướng nhà cần phối vói mệnh chủ sao cho được một trong 4 du niên tốt. Muốn vậy thì chú nhà thuộc Đông tứ mệnh phải có hướng nhà nằm ở Đông tứ trạch, thuộc Tây tứ mệnh thì hướng nhà phải nằm ở Tây tứ trạch. Dựa trên mức độ đáp ứng yêu cầu này, ta có thể biết một cách tống quát về tính tốt xấu khi sống trong ngôi nhà. Tuy nhiên, đây cũng chỉ mới là những dự đoán mang tính tổng quát nhất, dựa trên những nguyên tắc tương hợp giữa hướng nhà với mệnh chủ, chưa thể đi sâu phân tích chi tiết được. Muốn phân tích sâu về ngôi nhà thì cần phải lập trùng quái và phân tích kỹ từng hào. Một khi biết được tống quát tính tốt xấu của nhà, trên cơ sở Hướng nhà phối với mệnh chủ nhà, cũng giúp ta điều chỉnh thiết kế cho thích hợp hơn. Khi không đáp ứng được tính tương hợp giữa hướng nhà và mệnh quái chủ thì có thể phải dùng phép hoá giải ngay từ khâu thiết kế công trình.
1. Lập trùng quái theo hướng nhà và mệnh quái chủ nhà
Nguyên tắc lập trùng quái ở đây là: Lấy hướng nhà thuộc quái nào trong Hậu thiên bát quái để làm quái Hạ. Còn mệnh quái chủ nhà (xem mục 1.8) làm quái Thượng. (Khi dự đoán về nhà thì lấy quái Hạ là nhà, quái Thượng là người, hào 2 là nhà, hào 5 là người). Như vậy ta có tất cả 8 hướng nhà X 8 mệnh quái chủ = 64 trùng quái. Quái Hướng nhà luôn bao gồm cả 3 cung nhỏ mà nó quản. Thí dụ: Quái Càn gồm 3 cung Tuất Càn Hợi; quái Tốn gồm 3 cung Thìn Tốn TỊ. Các quái khác cũng vậy. Khi đặt cửa chính thì cố gắng đặt vào cung nhỏ tốt (cung có chấm đen trong bản đồ trạch quẻ ở Phụ lục 3).
2. Phản tích mức tốt xấu
Mức tốt xấu của nhà trong mỗi trùng quái được nêu trong Bảng PL 8 ở Phụ lục 8. Đây là những tổng kết của các nhà Phong thuỷ, đã được nhiều tài liệu về Phong thuỷ nêu lên . Cũng không thấy các tài liệu phân tích cơ sở phương pháp luận của những tính tốt xấu này. Những phân tích tính tốt xấu này cũng chỉ mang tính điển hình, không thể chi tiết cho từng ngôi nhà, vì tính tốt xấu của ngôi nhà không chỉ ở Hướng nhà (hướng cửa chính), mà còn ở hướng cổng, hướng bàn thờ, hướng lò bếp, hướng cửa phụ, trường khí quanh nhà v.v…

Dự đoán theo tượng quẻ (quẻ Thể và quẻ Dụng)
/. Thế nào là quẻ Thể, quẻ Dụng
Trong một trùng quái gồm 6 hào, ghép lại từ 2 quẻ đơn là quẻ Thượng (quẻ Ngoại) và quẻ Hạ (quẻ Nội). Quẻ đơn nào có chứa hào động gọi là Quẻ Dụng. Quẻ đơn không có hào động gọi là Quẻ Thể. Khi cả quẻ Thượng và Hạ đểu có hào động, hoặc đều không có hào động thì lấy quẻ có hào Thế làm quẻ Thể, quẻ có hào úng làm quẻ Dụng.
– Quẻ Thể là mình, quẻ Dụng là người hoặc sự việc.
– Khi xem gia trạch thì lấy quẻ Dụng là nhà, quẻ Thể là người (chủ nhà) đê dự đoán.
– Trong chiêm đoán lấy quẻ Thế làm quẻ chủ, các quẻ khác (quẻ Dụng, quẻ Hỗ, quẻ Biến) làm quẻ ứng.
2. Tốt xấu của Thể Dụng
Quẻ Thể phải vượng mới tốt. Khí của quẻ Thể suy đều là không cát lợi. Quẻ khắc Thể phải suy mới tốt. Quẻ Dụng, quẻ Hỗ, quẻ Biến thừa vượng đều là cát lợi, nhưng không được khắc quẻ Thể, nếu khắc thì nguy hại. Nếu trong các trùng quái có quẻ sinh Thể thì dù quẻ Thể có suy yếu cũng không nguy hại lắm. Ngược lại, khi quẻ trong quẻ ngoài không có quẻ sinh Thể thì dù quẻ Thể có vượng cũng không cát lợi. Tính vượng suy của mỗi quẻ được căn cứ vào mùa và tháng xem quẻ (xem mục 8.3.2 và bảng 8.7).
Quan hệ sinh khắc Thể Dụng như sau:
+ Thể khắc Dụng thì việc lanh lợi.
+ Dụng khắc Thể thì việc bất lợi + Dụng sinh Thể thì việc thuận lợi.
+ Thể sinh Dụng thì việc chưa chắc đã lanh lợi.
– Dụng Thể tỷ hoà (đồng Hành với nhau) thì việc thường là thuận lợi.
Không có quẻ khắc Thể thì việc chắc sẽ thành công.
Khi xem nhà (ở có tốt không):
Coi Thể là chủ, Dụng là nhà
– Thể khắc Dụng thì nhà đó ở tốt, may mắn.
– Thể sinh Dụng thì tài sản kém sút dần (bị tiết khí).
– Dụng khắc Thể thì nhà không dễ ở, nhiều hiểm nguy.
– Dụng sinh Thể thì nhà hưng vượng dần.
– Thể Dụng ngang hoà thì bình thường yên ổn.
3. Quẻ Chủ, quẻ Biến, quẻ Hỗ
Quẻ Chủ là quẻ lập lên ban đầu, gọi là quẻ gốc, biểu thị công việc ở giai đoạn đầu.
Quẻ Biến là do quẻ Chủ có hào động biến mà thành, biểu thị công việc ở giai đoạn cuối.
Quẻ Hỗ là quẻ lập từ việc chọn lựa các hào trong quẻ chủ theo một nguyên tắc quy định, biểu thị thời khắc của công việc (giai đoạn giữa).
Thí dụ: Khi xem việc hỷ mà có quẻ sinh Thể thì chắc chắn sẽ thành công. Không có quẻ khắc Thể cũng có thể thành công được. Nếu được quẻ sinh Thể là quẻ Dụng thì việc hỷ thành công ngay. Nếu quẻ sinh Thể là quẻ Hỗ thì việc thành công sẽ chầm chậm. Còn nếu quẻ sinh Thể là quẻ Biến thì việc thành công sẽ hơi muộn. Còn nếu gặp Dụng khắc Thể thì chắc là khó thành công. Nếu quẻ Biến khắc quẻ Thể thì đám hỷ cuối cùng cũng không thành công.
– Trong chiêm đoán lấy quẻ Thể làm quẻ chủ, quẻ Dụng, quẻ Biến, quẻ Hỗ làm quẻ ứng. Quẻ Dụng quan trọng nhất, sau đó là quẻ Hỗ, cuối cùng là quẻ Biến. Quẻ Hỗ chia ra quẻ Hỗ của quẻ Thể và quẻ Hỗ của quẻ Dụng. Nếu quẻ Thể ở dưới thì quẻ Hỗ ở dưới là quẻ Hỗ của quẻ Thể. Khi đó quẻ Hỗ ở trên là của quẻ Dụng. Quẻ Hỗ của quẻ Thể là rất quan trọng, quẻ Hỗ của quẻ Dụng chỉ là thứ yếu của quẻ Hỗ của quẻ Thể mà thôi. Quẻ Biến cũng vậy.
Cách lập quẻ Hỗ như sau:
Lấy hào 2, 3, 4 của quẻ Chủ lập thành quẻ Hạ (Hạ quái).
Lấy hào 3, 4, 5 của quẻ Chủ lập thành quẻ Thượng (Thượng quái).

 Mục đích của dự đoán nhà 1

Xem thêm: Bán nhà Hà Nội có sổ đỏ

Nhũng yếu tố hỗ trợ dự đoán

Sao Quý nhân
Quý nhân, còn gọi là Thiên ất quý nhân, là hào có Chi tương ứng với Can của ngày dự đoán. Cụ thê như sau:

Nhũng yếu tố hỗ trợ dự đoán  1

Quý nhân thường xem cho hào Dụng thần, Thế. Thí dụ: Dự đoán vào ngày Ât, Ký mà Dụng thần là Tý hoặc Thân thì Dụng thần là có Quý nhân. Nguyên thần là Tý, Thân thì Dụng thần cũng gọi là có Quý nhân. Khi có Quý nhân thì dự đoán sẽ tốt lên, nếu sự việc xâu thì cũng đỡ xấu đi. Nếu Quý nhân là hào Kỵ thần thì dự đoán sẽ xấu hơn.
Sao Mã
Sao Mã thường dùng xem người xuất hành hoặc người đi xa.
Sao Mã dược quy định như sau:
Dự đoán ngày Thân, Tý, Thìn – Sao Mã ở Dần.
Dần, Ngọ, Tuất – — Thìn.
Tị, Dậu, Sửu – Hợi.
— Hợi, Mão, Mùi – — Tị
Đi công tác xa mà có sao Mã ở hào Dụng thần, Thế thì tốt.
Sao Đào hoa
Đào hoa tốt cho việc hôn nhân, cầu tài lộc. Dụng thần vượng gặp Đào hoa thì sự việc sẽ tốt. Đào hoa được quy định như sau:
Dự đoán ngày Dần, Ngọ, Tuất- Đào hoa ở Mão.
Tị5 Dậu, Sửu – Ngọ.
Thân, Tý, Thìn – – — Dậu.
Hợi, Mão, Mùi Tý
Sao Hoa cái
Sao Hoa cái được quy định như sau:
Dự đoán ngày Dần, Ngọ, Tuất – Hoa cái ở Tuất.
— — Tị, Dậu, Sửu Sửu.
— Thân, Tý, Thìn – Thìn.
Hợi, Mão, Mùi – Mùi.
Nếu Dụng thần, Thế gập Hoa cái thì sự việc được giúp đỡ. Nếu xem về người thì là người tu hành.
 Quái Thân và hào Thân
Quái Thân và hào Thân trợ giúp cho Thế (T) và Dụng thần (DT) theo nghuyên tắc
sau đây:
Hào T, DT tốt: quái Thân và Thân hào tốt thì độ tốt tăng lên;
Hào T, DT tốt: quái Thân và hào Thân xấu thì độ tốt giảp đi;
Hào T, DT xấu: quái Thân và hào Thân tốt thì độ xấu giảm đi;
Quái Thân là tính cho cả quẻ, hào Thân chỉ tính cho hào đó.
Cách tìm quái Thân:
– Tim quái Thân căn cứ vào tính chất Âm Dương của hào Thế (T)
– Hào T Dương thì chi Tý dặt tại hào sơ (hào 1)
– Hào T Âm thì chi Ngọ đặt tại hào sơ.
Tính thuận các Chi Tý, Sửu, Dần Mão… từ hào 1 đi lên, đến hào T thì dừng. Quái nào có hào chùng tên Chi vừa đến ở hào T thì gọi quái đó là quái Thân.
Thí dụ: Ta có trùng quái Trạch Hoả Cách gồm quái Thượng là Đoài, quái Hạ là Ly. An các lục thân hào và tìm quái Thân ta có như sau:

Nhũng yếu tố hỗ trợ dự đoán  1

Vì hào T Dương, nên đặt chi Tý tại hào sơ. Ta tính từ dưới lên: Tý, Sửu, Dần, Mão, gặp hào T thì dừng lại. Ta thấy hào sơ thuộc quả Ly có chi Mão cùng Chi với Chi Mão vừa đến hào T, nên quẻ Ly là quái Thân.
Cách tìm hào Thân:

Nhũng yếu tố hỗ trợ dự đoán  1

Xem thêm: Bán nhà Hà Nội dưới 1 tỷ

Những nguyên tắc sinh khắc cần nắm khi dự đoán

Nhất sinh khắc hợp phá
Nhật (ngày dự đoán) là yếu tố mạnh trong dự đoán. Nhật kiến là ngày lập quái dự đoán. Hào được Nhật sinh thì trở lên vượng, các hào khác không xung phá hại được nó. (Hào vượng là hào được Nhật Nguyệt sinh hợp kiến. Còn vượng đến mức nào thì phải xem tình huống cụ thể cua hào đó).
Hào động mà được Nhật sinh hoặc hợp thì khắc chế được hào khắc. Hào tĩnh vượng mà được Nhật xung thì thành hào ám động (mạnh gần như hào động).
Dụng thần suy yếu hoặc bị hưu tù mà được Nhật sinh, kiến là có cứu.
Kỵ thần hợp Nhật thì Dụng thần nguy hại. Nhật sinh, kiến Nguyên thần thì Dụng thần gặp thuận lợi.
Hào được Nhật sinh thì có bị Nguyệt xung khắc cũng không bị thương, bị hào động khắc cũng không bị tổn thương, hoặc có biến hoá khắc cũng không xấu.
Hào được Nguyệt sinh, nhưng Nhật khắc thì vẫn suy yếu. Phải có thêm một yếu tố khác sinh cho thì mới khắc phục được Nhật khắc.
Dụng thần bị Nhật Nguyệt hào động khắc là thân cô thế cô, việc sẽ rất xấu.
Dụng thần, Thế lâm Không vong mà được Nhật xung thì mất Không vong. Mùa xung cũng mất Không vong.
Chú ý: Hào hợp Nhật (nhất là hào DT, T) thì phải chờ ngày xung Nhật hoặc xung hào ấy thì mới ứng nghiệm. (Bệnh khỏi: đến ngày xung mới khỏi. Bệnh chết: đến ngày xung mới chết).
Hào bị Nhật phá là hào tĩnh không vượng hoặc bị tuần không mà có địa chi xung với địa chi của Nhật. Hào bị Nhật phá thì xấu.
Nguyệt sinh khắc phá
Nguyệt (tháng dự đoán) là yếu tố không mạnh bằng Nhật trong dự đoán, nhưng cũng góp phần chi phối tính tốt xấu trong dự đoán, nhất là dự đoán trong thời gian của tháng. Thí dụ: Xem người ốm mà Dụng thần bị Nguyệt phá thì sẽ nguy nan trong tháng đó. Ra khỏi tháng đó thì mới hết bị Nguyệt phá. Hoặc đến ngày hợp thì cũng không còn bị phá.
Nguyệt kiến tức là Chi tháng sẽ chi phối trong tháng đó. Nguyệt kiến có thể trợ giúp hào suy bằng sinh hợp để biến suy thành vượng. Khi dự đoán mà ứng nghiệm chậm thì tính theo tháng.
Dụng thần đựoc Nguyệt sinh, nhưng Nhật phá thì cũng chỉ được dưới trung bình. Nếu được Nhật sinh nhưng Nguyệt phá thì cũng chỉ được mức trung bình.
Hào đựoc Nguyệt sinh hợp thì tốt, ngược lại bị Nguyệt khắc, phá thì không tốt.
Kỵ thần bị Nguyệt phá thì không khắc được Dụng thần.
Căn cứ vào Nguyệt kiến để biết được hào đó là vượng hay không.
Hào bị Nguyệt phá là hào có Chi xung với Chi của tháng dự đoán. Cụ thể:
– Tháng giêng kiến Dần, hào Thân bị Nguyệt phá
– Tháng 2 Mão, hào Dậu
– Tháng 3 — Thìn, hào Tuất
– Tháng 4 Tị, hào Hợi
– Tháng 5 kiến Ngọ, hào Tý
– Tháng 6 kiến Mùi, hào Sửu –
– Tháng 7 kiến Thân, hào Dần
– Tháng 8 kiến Dậu, hào Mão
– Tháng 9 kiến Tuất, hào Thìn
– Tháng 10 kiến Hợi, hào Tị
– Tháng 11 kiến Tý, hào Ngọ
– Tháng 12 kiến Sửu, hào Mùi
Chú thích: Tháng ở đây tính theo Tiết khí (xem Bảng 6.3).
3. Hào động sinh khắc xung hợp
Trong dự đoán, hào động có sức mạnh lớn, nên có ý nghĩa rất quan trọng, “Thần cơ tại động hào”. Nó có thể sinh, khắc, xung, hợp với tất cả các hào trong quái chủ. Hào ở quái biến chỉ có thể sinh, khắc, xung, hợp với hào tương ứng ở quái chủ mà thôi.
Hào ám động (hào tĩnh vượng được Nhật xung) có sức mạnh như hào động.
Vượng thắng suy. Nhưng khi hào vượng tĩnh mà hào suy động biến, lại có sinh phù, thì vượng không thắng được.
2. Tam hợp
Có 4 Tam hợp cục thường dùng trong dự đoán. Đó là:
– Tị Dậu Sửu (Kim cục)
– Hợi Mão Mùi (Mộc cục)
– Thân Tý Thìn (Thuỷ cục)
– Dần Ngọ Tuất (Hoả cục).
Cần có đủ 3 Địa Chi để tạo thành một Tam hợp. Cụ thể cần phải có một trong các điểu kiện sau đây:
– 3 hào trong trong quẻ chủ có 3 Chi tạo thành một Tam hợp.
– 1 hào trong quả chủ và Nhật Nguyệt tạo thành một Tam hợp
– 2 hào trong quẻ chủ với Nhật hoặc Nguyệt tạo thành một Tam hợp.
Tam hợp cục sinh cho DT, T thì tốt, sinh cho Ư thì ta bị thiệt.
Kỵ thần hợp cục thì Dụng thần bị nguy hại.
3. Nhị hợp
Các hào sau đây gọi là Nhị hợp:
– Hào tĩnh hay động hợp với Nhật hoặc Nguyệt. Khi đó hào này sẽ trở thành vượng tướng. Thí dụ trong quái có hào Mão mà dự đoán vào ngày Tuất hay tháng Tuất thì hào này gọi là nhị hợp (Mão hợp Tuất).
– Hai hào động có Chi hợp.
– Hào động hợp với hào do nó biến ra.
Gặp nhị hợp là gặp sinh phù, còn có thể hoá giải được tưcng khắc. Thí dụ hào Mão Mộc động biến sang Tuất Thổ là được nhị hợp. Khi đó có thể hoá giải Mộc khắc Thổ.
4. Hào có cứu
Một hào bị một hào vượng khác khắc, nhưng lại có một hào động sinh cho (hoặc khắc chế hào khắc đó) thì hào này gọi là có cứu. Hoặc hào bị Nhật khắc, nhưng lại được một hào động sinh cho thì cũng gọi là hào có cứu. Có cứu tức là đỡ xấu đi.
5. Bàn về hào Nguyên thần
Nguyên thần là hào sinh Dụng thần. Nhưng không phải lúc nào cũng sinh được cho Dụng thần.
a) Nguyên thần sinh được cho Dụng thần khi:
Nguyên thần lâm Trường sinh, Đế vượng, Nhật kiến;
Nguyên thần động hoá tiến thần hoặc hoá hồi đầu sinh (hoá sinh trở lại);
Nguyên thần lâm Nhật kiến, Nguyệt kiến;
Nguyên thần lâm Nhật Nguyệt lại là hào động;
Nguyên thần và Kỵ thần cùng động(khi đó Kỵ thần sinh Nguyên thần để Nguyên thần sinh Dụng thần).
Nguyên thần vượng động mà lâm tuần không hoặc hoá không, vì động thì không còn tuần không nữa, nhưng phải sau xuất không mới ứng nghiệm.
b) Nguyên thần không sinh được Dụng thần khi:
Nguyên thần hưu tù lại gặp Tuyệt địa;
Nguyên thần hưu tù lại gặp tuần không, nguyệt phá;
Nguyên thần hưu tù không động, hoặc động biến thành Tuyệt, động hồi đầu khấc;
Nguyên thần động mà hoá thoái thần;
Nguyên thần động mà hoá phá, hoá tán;
Nguyên thần lâm tam mộ.
6. Bàn vê hào Kỵ thần
Kỵ thần là hào khắc Dụng thần. Nhưng cũng không phải lúc nào cũng khắc được Dụng thần. Có lúc khắc được, có lúc không.
a) Kỵ thần khắc được Dụng thần khi:
Kỵ than vượng tướng lâm Nguyệt kiến, Nhật hợp;
Kỵ thần vượng động mà lâm không hoặc hoá không;
Kỵ thần động mà lâm Nguyệt, được Nhật sinh phù;
Kỵ thần động hồi đầu sinh hoặc hoá tiến thần;
Kỵ thần và Cừu thần cùng động (khi đó Cừu thần sinh Kỵ thần để Kỵ thần khắc Dụng thần);
– Kỵ thần là Trường sinh, Đế vượng.
b) Kỵ thần không khắc được Dụng thần khi:
Kỵ thần hưu tù lại lâm Tuyệt;
Kỵ thần động hoá thoái thần;
Kỵ thần hưu tù lại cùng bị Nhật Nguyệt khắc;
Kỵ thần động mà hoá phá hoá tán;
Kỵ thần tĩnh mà lâm không vong, bị phá;
Kỵ thần động mà nhập mộ.
Tuy nhiên khi qua các thời điểm trên, Kỵ thần vượng lên thì lại khắc được Dụng thần.
7. Bàn vê nhập mộ
Có 3 cách nhập mộ: Dụng thần nhập mộ; động mà nhập mộ; động mà hoá mộ. Dụng thần không nên nhập mộ. Kỵ thần nhập mộ thì tốt.
Dụng thần nhập mộ thì phải chờ đền ngày xung mộ mới có ứng nghiệm;
Dụng thần vượng mà gập tuần không, phá thì phải chờ đến lúc xuất không việc mới ứng nghiệm.
Dụng thần trùng lặp hoặc thái quá thì nên bị khắc hoặc bị mộ thì sự việc mới thuận lợi. Thí dụ Thổ là Dụng thần, lại gặp Thổ của Thìn Tuất Sửu Mùi là Dụng thần trùng lặp thái quá. Phải chờ có Dần Mão Mộc khắc mới ứng nghiệm.
10. Tham sinh quên khắc
Trong dự đoán, khi một hào nào đó Xung, khắc, hình, hại Dụng thần, Thế mà được một hào khác sinh hợp thì nó sẽ tham sinh mà quên khắc hình xung hại DT, T. Có thể nêu mấy thí dụ:
– DT Sửu Thổ.
Hào động Dần Mộc khắc DT (Mộc khắc Thổ).
Nhưng Dần Mộc động biến sang Tý Thuỷ. Khi đó Thuỷ sinh Mộc. Hào động Dần Mộc tham sinh nên không khắc DT nữa.
– DTTỊHoả.
Hào Hợi Thuỷ động biến, khắc DT (Thuỷ khắc Hoả).
Thêm hào Mão Mộc cùng động biến.
Khi đó hào Hợi Thuỷ mải sinh Mão Mộc để Mão Mộc sinh DT Tị Hoả. Khi đó Hợi Thuỷ không khắc DT Tị Hoả nữa.
– DT Thân Kim
Hào Hợi Thuỷ động biến.
Khi đó Hợi hình Thân, nhưng có Kim sinh Thuỷ nên hết hình.
– DT Dậu Kim.
Nguyên thần Thìn Thổ.
Ta có Thìn Thìn hình. Nhưng vì Thìn hợp Dậu nên hết hình. Ở đây gọi là hợp hình.
– DT Tuất Thổ.
Kỵ thần Mão Mộc.
Ta có Mộc khắc Thổ. Nhưng vì Mão hợp Tuất nên không khắc nữa. Ta gọi là hợp khắc.

Xem thêm: Bán nhà Hà Nội có sổ đỏ

Những yếu tố dùng để phân tích quẻ dịch

Những yếu tố dùng để phân tích quẻ dịch :

Sinh Vượng Mộ Tuyệt
Vòng trường sinh của vạn vật có 12 bước sau đây:
1. Trường sinh (S): Vạn vật sinh ra
2. Mộc dục: Mới sinh, còn yếu ớt.
3. Quan đới: Bắt đầu phát triển.
4. Lâm quan: Giai đoạn trưởng thành.
5. Đế vượng (V): Đã phát triển đến cực thịnh.
6. Suy: Bắt đầu suy yếu.
7. Bệnh: Lâm bệnh.
8. Tử: Chết.
9. Mộ (M): Vào mộ. (Con đi thi mà vào Mộ thì không làm được bài).
10. Tuyệt (T): Đã tuyệt diệt.
11. Thai: Thai nghén chu kỳ vòng trường sinh mới. (Xem có con mà trong quẻ có hào Thai thì mới hy vọng có con).
12. Dưỡng: Thai nghén cần được nuôi dưỡng.
Trong 12 bước này có 4 bước quan trọng là Sinh, Vượng, Mộ, Tuyệt – thường dùng trong dự đoán để xem xét các hào là Trường sinh, Đế vượng hay lâm Mộ lâm Tuyệt. Hào Dụng thần, Thế được Sinh hay Vượng thì tốt, lâm Mộ hay Tuyệt thì xấu. 4 bước quan trọng này có liên quan với Tam hợp cục: Kim cục, Mộc cục, Thuỷ cục, Hoả cục. Cụ thể như ở Bảng 8.5:

Những yếu tố dùng để phân tích quẻ dịch  1

 Vượng Tướng Hưu Tù Tử
Vượng Tướng Hưu Tù Tử là những khái niệm đặt ra khi luận về quan hệ sinh khắc theo 4 mùa. Cụ thể như ở Bảng 8.6.
Ta nói:
– Mùa Xuân mang hành Mộc nên Mộc Vượng.
– Mộc Vượng sinh Hoả nên Hoả Tướng.
– Thuỷ sinh Mộc Vượng nên hết sức – Thuỷ Hưu.
– Kim khắc Mộc Vượng nên Kim Tù (vì không khắc được).
– Mộc Vượng khắc Thổ nên Thổ chết – Tử.

Những yếu tố dùng để phân tích quẻ dịch  1

Ngày không vong
1. Ta biết tên mỗi ngày được gọi bằng một tên Can Chi. Trong 60 hoa giáp người ta chia ra thành 6 tuần Giáp, mỗi tuần 10 ngày tương ứng với 10 Can: Giáp Ât Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý. Nhưng tên ngày theo địa Chi lại có 12 Chi: Tý Sửu Dấn Mão Thìn Tị Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi, so với Can thì mỗi tuần Giáp thừa ra 2 Chi. Hai Chi này gọi là Chi không vong. Vậy cứ mỗi tuần Giáp 10 ngày thì có 2 ngày Không vong, là 2 ngày đứng trước ngày đầu của tuần Giáp. Ngày Không vong tính theo tuần Giáp cụ thể như sau:
– Tuần Giáp Tý có 2 ngày Không vong là: Tuất, Hợi.

Những yếu tố dùng để phân tích quẻ dịch  1

Xem thêm: Bán nhà nhanh chóng. Dễ dàng. Đăng tin của bạn tại Bán nhà Hải Phòng

Lập quẻ Dịch theo tượng quẻ

Có 8 quẻ là: Càn Đoài Ly Chấn Tốn Khảm Cấn Khôn. Biểu tượng của 8 quẻ này được thể hiện trong Bảng 8.10. Tám quẻ này cùng với số tương ứng của nó được dùng để lập một trùng quái.
a) Lập trùng quái Chủ (Gốc)
Trùng quái Chủ được lập bằng cách lấy trực tiếp các tượng quẻ đơn đặt trên dưới nhau để được một trùng quái (quẻ kép). Có nhiều cách khác nhau để chọn tượng quẻ, thí dụ như:
Dùng Hướng nhà và Sơn nhà lập thành một Trùng quái. (Đặt Hướng trên, Sơn dưới). Thí dụ: Nhà Sơn Tý Hướng Ngọ. Ta biết Tý nằm ở phương Bắc trong Hậu thiên bát quái do quái Khảm quản, còn Ngọ ở phương Nam do quái Ly quản, Vậy ta được quẻ Hoả Thuỷ Vị tế (Ly trên Khảm dưới):
Dùng Hướng nhà phối với Mệnh tinh của chủ nhà thành một trùng quái, quái Thượng là mệnh chủ, quái Hạ là hướng nhà. Thí dụ chủ nhà mệnh Chấn, nhà hướng Đông Nam (Tốn) ta được quẻ Lôi Phong Hằng (Chấn trên Tốn dưới):
Dùng tượng người hay con vật phối với hướng đi tới lập thành một trùng quái, quái Thượng là người hay con vật, quái Hạ là hướng đi tới. Thí dụ: có một thanh niên đi từ hướng Ly tới đê hỏi xem quẻ.

Dùng hình thái, màu sắc, âm thanh, vị trí, tính chất của sự vật, số nét chữ của họ hoặc tên người xin quẻ v.v… để xác định quẻ dịch. Thí dụ: màu đen thuộc Thuỷ là quẻ Khảm, màu đỏ Hoả thuộc Ly; sự vật lúc xem quẻ thấy tươi sáng là thuộc quẻ Ly, vui vẻ thuộc quẻ Đoài (xem Bảng 8.9). Tuỳ theo kinh nghiệm và sự sáng tạo của người lập quẻ mà vận dụng nhiều cách khác nhau để lập trùng quái Chủ.
Chú thích: Khi lập trùng quái Chủ có thể căn cứ vào số đã có để xác định quẻ (gọi là phương pháp Tiên thiên chiêm quái), hoặc căn cứ vào quẻ đã có để xác định số (gọi là phương pháp Hậu thiên chiêm đoán). Điều này tuỳ thuộc vào điều kiện chiêm đoán.
b) Lập trùng quái Biến
Để lập trùng quái Biến cần phải tìm hào biến trong quẻ Chủ. Trong trường hợp này ta lấy tổng gồm số của quẻ trên cộng với sô’ của quẻ dưới (xem Bảng 8.1) rồi cộng thêm số của giờ lập quẻ, hay giờ người đến hỏi rồi chia cho 6. Số dư chính là hào động biến. Cho hào này biến Âm sang Dương hay Dương sang Âm ta sẽ có được trùng quái Biến.
Thí dụ: quẻ Hoả Thuỷ Vị tế ở trên được lập vào giờ Tị là số 6, số của quẻ Ly là 3, số của quẻ Khảm là 6. Ta có: 3 + 6 + 6 = 15, chia 6 dư 3, vậy hào 3 Âm biến thành Dương. Ta được quẻ biến là Hoả Phong Đỉnh:

Lập quẻ Dịch theo tượng quẻ 1

Bát quái phối Can Chi
Sau khi lập được trùng quái, ta cần phối Can Chi cho tùng hào. Có thể phối theo Thiên Can hay Địa Chi.
1) Phối Thiên can
Phối Thiên can theo bát quái Tiên thiên được áp dụng để lập trùng quái theo Can. Cụ thể nguyên tắc phối như sau:
Quái Càn: Thượng quái phối với Can Nhâm
Hạ quái Giáp
Quái Khôn: Thượng quái phối với Quý
Hạ quái Ất
Quái Đoài: Phối với Đinh
Ly quái: Kỷ
Chấn quái: Canh
Tốn quái: Tân
Khảm quái: Mậu
Cấn quái: Bính

Lập quẻ Dịch theo tượng quẻ 1

Phối Địa Chi
Địa Chi được phối theo nguyên tắc sau:
1. Quái Dương (+) phối Chi Dương (+), bỏ Chi Âm (-)
Quái Âm (-) phối Chi Âm (-), bỏ Chi Dương (+).
2. Phối theo thứ tự từ hào 1 đến hào 6.
Phối Chi (+) bắt đầu từ Tý (thuận chiều KĐH)
Phối Chi (-) bắt đầu từ Sửu (ngược chiều KĐH).
Nguyên tắc phối Địa chi được thể hiện trong Bảng 8.2 và Hình 8.1 dưới đây.
Chú ý: Vì Địa Chi được phối liên tục từ hào 1 đến hào 6, nên việc phối cho các hào 4,5,6 ở quái Thượng cần được tính thứ tự từ hào 1 rồi bỏ qua 3 hào đầu, bắt đầu phối từ hào 4 đến hào 6.

Lập quẻ Dịch theo tượng quẻ 1

 

Xem thêm: Bán nhà nhanh chóng. Dễ dàng. Đăng tin của bạn tại Bán nhà Hải Phòng

Lập quẻ dịch

 Cách lập một quẻ dịch (Trùng quái)
Tuỳ theo điều kiện cụ thể, có thể lập một quẻ Dịch (một trùng quái) bằng cách dựa theo thời gian năm tháng ngày giờ, gieo đổng tiền, hoặc ghép nối các tượng quẻ (thí dụ như quẻ đơn Hướng nhà ghép với quẻ đơn mệnh quái của chủ nhà).
/. Lập quẻ Dịch ịtrùng quái) theo thời gian Năm, Tháng, Ngày, Giờ Các bước lập Trùng quái gồm có:
a) Xác định sô’ cho thời gian
• Giờ:
Giờ Tý số 1 Giờ Sửu số 2 Giờ Dần số 3
Giờ Hợi số 12.
• Ngày (âm lịch):
Ngày mồng 1 số 1 Ngày mồng 2 số 2 Ngày mồng 3 số 3
Ngày 30 số 30
• Tháng (âm lịch):
Tháng Giêng (Dần) số 1 Tháng Hai (Mão) số 2 Tháng Ba (Thìn) số 3
Tháng 12 (Sửu) số 12
• Năm:
Năm Tý số 1 Năm Sửu số 2 Năm Dần số 3
Nãm Hợi số 12
Chú thích:
• Khi dự đoán vận mệnh cuộc đời cho ai thì lấy Giờ, Ngày, Tháng, Năm sinh của người đó. Trọng đó Nãm sinh lấy theo hàng Can với các số tương ứng như sau:

Lập quẻ dịch 1

• Lấy thời điểm trước hoặc sau Lập Xuân để tính năm tháng sinh của mỗi người. Người sinh trước Lập Xuân thì tính năm sinh là năm trước. Sinh sau Lập Xuân thì tính năm sau. Còn các tháng thì lấy Tiết lệnh của tháng để xác định tháng sinh. Trước Tiết lệnh là vào tháng trước, sau Tiết lệnh là vào tháng sau. (Tiết lệnh tháng xem Báng 6.3). Việc xác định tứ trụ chuẩn xác sẽ giúp cho xác định đúng tính vượng suy trong quẻ Dịch.
Thí dụ: – Giả sử năm 1987 – Đinh Mão, Lập Xuân vào 15hl5p ngày 7/1 âm lịch.
Người sinh trước I5hl5p ngày 7/1 sẽ có tứ trụ là:
Năm 1986 – Bính Dần, tháng 12 – Tân Sửu, ngày 7 – Giáp Thân, giờ Thân. Người sinh sau 15hl5p có tứ trụ là:
Năm 1987- Đinh Mão, tháng 1 – Nhâm Dần, ngày 7 – Giáp Thân, giờ Thân.
– Giả sử nãm 1986, Lập Hạ vào 2h31p ngày 28/3 âm lịch.
Người sinh trước Tiết Lập Hạ có tứ trụ là:
Năm 1986 – Bính Dẩn, tháng 3 – Nhâm Thìn, ngày 28 – Canh Tuất, giờ Dần. Người sinh sau Tiết Lập Hạ có tứ trụ là:
Năm 1986 – Bính Dần, tháng 4 – Quý Tị, ngày 28 – Canh Tuất, giờ Dần.
Chú thích: – Nếu tiết lệnh nằm vào tháng nhuận thì trước tiết lệnh thuộc vào tháng nhuận, sau tiết lệnh thuộc vào tháng sau.
– Lệnh tháng chỉ chung để xét tính suy vượng của quẻ. b) Mã hoá 8 cpie’ đơn theo số dư tính toán Cụ thể như sau:

Lập quẻ dịch 1

c) Tính toán lập quẻ + Quẻ chủ
• Thượng quái
Lấy tổng A gồm các số của Ngày + Tháng + Nãm chia cho 8, được số Dư tra Bảng 8.1 được quẻ trên (Thượng quái).
• Hạ quái
Lấy tổng B gồm các con sô Giờ + Ngày + Tháng + Năm chia cho 8 được sô Dư, tra Bảng 8.1 được quẻ Hạ (Hạ quái).
Chú thích: Tổng A và tổng B nếu không có số Dư thì lấy số Dư là 8 để tra Bảng 8.1.
+ Quẻ biến
• Xác định Hào động biến
Lấy tổng B chia cho 6, được số Dư chính là Hào động biến.
Chú thích: Khi không có số Dư thì hào 6 là động biến.
Thí dụ cụ thể: Lập trùng quái cho Giờ Ngọ, Ngày Tân Mão (Ngày 13), Tháng Mậu Thân (Tháng 7), Năm Đinh Hợi 2007.
– Ta có các số của tứ trụ như sau: Giờ = 7; Ngày =13; Tháng = 7; Năm = 12
– Lấy tổng A = 13 + 7 + 12 = 32, Dư 0, lấy số Dư là 8. Tra Bảng 8.1 được quẻ Khôn là Thượng quái.
– Lấy tổng B = 32 + 7 (số của Giờ) = 39; Chia cho 8, Dư 7. Tra Bảng 8.1 được quẻ Cấn là Hạ quái
– Đặt quẻ Khôn trên, quẻ Cấn dưới ta được quẻ chủ là trùng quái Địa Sơn Khiêm
– Lấy tổng 32 + 7 = 39; chia cho 6, Dư 3. Vậy Hào 3 động biến từ Dương sang Âm, ta được quẻ biến là trùng quái Thuần Khôn (Khôn vi Địa).

Lập quẻ dịch 1

 

Sơ lược về khoa học dự đoán

 Sơ lược về Dự đoán cổ
Ngày nay loài người có nhiều loại hình dự báo như: dự báo khí tượng thuỷ văn, dự báo tiến bộ kỹ thuật, dự báo phát triển kinh tế, dự báo trữ lượng mỏ v.v… Bản chất của những dự báo này là dựa vào những thông tin mang tính thống kê của quá khứ và hiện tại mà suy đoán tương lai. Độ chính xác của những dự báo này phụ thuộc vào trình độ phát triển khoa học kỹ thuật và trình độ phân tích của con người làm dự báo. Trong việc này, gọi là dự báo hay dự đoán cũng vậy. Người xưa lại có cách dự đoán của mình dựa theo tương quan Âm Dương Ngũ hành Can Chi. Tạm gọi đó là Dự đoán cổ. Độ chuẩn xác của dự đoán cổ cũng chuẩn xác nhiều khi đến phải ngạc nhiên. Nó gần như là một quy luật của Trời Đất mà con người còn đang tiếp cận đến.
Dự đoán cổ có nhiều loại hình khác nhau. Mỗi loại có công năng riêng của nó, nhưng đã từ lâu loài người thừa nhận dự đoán theo quẻ Dịch là có cơ sở và độ chuẩn xác khá cao. Vì vậy trong chương này tác giả chỉ đi sâu giới thiệu phương pháp dự đoán theo quẻ Dịch.
Dự đoán về nhà theo quẻ Dịch
Dự đoán theo quẻ Dịch có 2 phương pháp: theo tượng quẻ và theo phân tích từng hào trong quẻ. Dù cách này hay cách khác, việc đầu tiên là phải lập được quẻ Dịch dưới dạng một trùng quái, sau đó phân tích quẻ Dịch, rồi rút ra kết luận dự đoán (dự báo).
Quẻ Dịch gồm có quẻ đơn (còn gọi là Đơn quái) và quẻ kép (còn gọi là Trùng quái). Quẻ đơn gồm có 3 hào, và không nằm ngoài 8 quẻ: Càn Đoài Ly Chấn Tốn Khảm Cấn Khôn. Trùng quái gồm 2 quẻ đơn đặt trên và dưới liền nhau, tạo thành một quẻ kép gồm 6 hào. Quẻ trên gọi là Thượng quái hay Ngoại quái. Quẻ dưới gọi là Hạ quái hay Nội quái. Vì là có 8 quẻ đơn chồng lên nhau theo quy luật thứ tự biến các hào, nên ta sẽ có 8 X 8 = 64 trùng quái. Tên của các trùng quái xem ở Phụ lục 7.
Trong dự đoán người ta phân tích tính chất sinh khắc của các quẻ và các hào dựa trên thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Sau đây ta cần đi cụ thê vào phương pháp lập một quẻ Dịch và tìm hiểu các yếu tô phân tích một quẻ dịch nói chung, trước khi đi vào phân tích cụ thể một quẻ Dịch để dự đoán về ngôi nhà.