Nguyên lý Âm Dương hợp thành mười và Thiên Địa sinh thành

Trên Cửu tinh đồ cơ bản (Hình 1.6) ta thấy các số đối nhau qua tâm theo mọi phương đều cho tổng bằng 10. Ta gọi đây là nguyên lý Âm Dương hợp thành 10. Còn trong Hà đồ (Mục 1.3) thì những con số âm dương tạo thành một mối quan hệ Sinh thành. Ta có thể vận dụng 2 nguyên lý này, gọi là nguyên lý Ấm Dương hợp thành 10 và nguyên lý Thiên Địa sinh thành, để xem xét trường khí trong nhà.
Khi phi tinh Sơn Hướng mà ở mỗi cung có 2 sao cộng lại bằng 10 thì sẽ tạo được một trường khí thuần nhất lưu thông giữa cung Sơn và cung Hướng qua cung Trung tâm. mang vượng khí lưu hành trong toàn ngôi nhà. Vì vậy ngôi nhà một khi không được vượng Sơn vượng Hướng, nhưng nếu có được nguyên lý Âm Đương hợp thành 10 thì vẫn có trường khí tốt trong nhà. Chỉ cần có một trong cửu cung có khí vượng thì các cung khác khí cũng sẽ vượng. Người ở trong ngôi nhà này sẽ vượng cả nhân khẩu và tài lộc.
Lấy một số thí dụ để minh hoạ vấn đề:
Thí dụ ỉ: Phi tinh nhà Vận 8, Sơn Sửu Hướng Mùi
Sau khi phi tinh Vận 8 theo đường bay tiến thuận, ta đặt các sao ở ô cung Sơn và cung Hướng vào cung trung tâm theo nguyên tắc tả Sơn hữu Hướng, rồi phi tinh Sơn Hướng. Ớ đây Sửu và Mùi đều là Địa nguyên long, nên số sao 5 lẻ sẽ bay thuận, số sao 2 chẵn- bay nghịch. Vị trí các sao trong các ô cung được thể hiện ở Hình 4.9.a).

Nguyên lý Âm Dương hợp thành mười và Thiên Địa sinh thành 1

Tại Hình 4.9.a) ta thấy ở tất cả các ô cung đều có sao Vận cộng với sao Sơn bằng 10. Như vậy là các sao Vận và sao Sơn có sự lưu thông với nhau ở các ô cung, nên ngôi nhà như này có trường khí tốt.
Thí dụ 2: Phi tinh nhà Vận 4 Sơn Giáp Hướng Canh
Tương tự như Thí dụ 1, ta tiến hành phi tinh Vận 4, rồi đặt sao ở ô cung Sơn và Hướng vào ô trung tâm. Tiến hành phi tinh các sao Sơn Hướng. Vì Giáp và Canh cũng đều là Địa nguyên long, nên sao 2 và 6 chẵn đều bay nghịch. Ta có Bản đồ phi tinh thể hiện ở Hình 4.9.b).
Hình 4.9.b) cho thấy ở tất cả các ô cung đều có số sao Vận và số sao Hướng cộng lại bằng 10. Như vậy là sao Vận và sao Sơn lưu thông nhau ở tất cả các cung, tạo một trường khí tốt cho ngôi nhà.
– Trong mỗi ô cung có 2 sao (hoặc là saoVận với sao Sơn, hoặc là sao Vận với sao Hướng) cộng lại bằng 10;
– Trong ô cung Sơn và ô cung Hướng có 2 sao cộng lại bằng 10.
Theo lý thuyết văn hoá xây dựng phương Đông thì trong 216 Vận chỉ có 24 Vận khi phi tinh sơn Hướng có thể có các sao tạo thành nguyên lý Âm Dương hợp thành 10 mà thôi (Bảng 4.2).

Nguyên lý Âm Dương hợp thành mười và Thiên Địa sinh thành 1

Nguyên lý Thiên địa sinh thành.
Trong một ngôi nhà, khi phi tinh Sơn Hướng mà giữa các sao không có quan hệ Âm Dương hợp thành 10, nhưng các sao ở 3 cung: Sơn, Hướng và Trung tâm lại có mối quan hệ sinh thành, thì cũng có được trường khí tốt trong nhà, đi từ Hướng đến Sơn qua Trung tâm. Tuy nhiên trong trường hợp này thì cần phải có ít nhất 1 cung (trong 3 cung Sơn, Hướng và Trung tâm) có sao vượng thì trường khí trong nhà mới vượng.
Thí dụ: Ngôi nhà Vận 4, Sơn Tý, Hướng Ngọ.
Tiến hành phi tinh Vận 4 theo đường bay thuận, rồi phi tinh các sao Sơn và sao Hướng, ta được bản đồ phi tinh ở Hình 4.10. Trong đó Tý, Ngọ đều là Thiên nguyên long, nên sao số lẻ sẽ bay nghịch, sao số chẵn bay thuận.

Nguyên lý Âm Dương hợp thành mười và Thiên Địa sinh thành 1

 

Phi tinh theo Nguyệt vận

1. Nguyệt vận được tính từng tháng một. Mỗi tháng có một sao bay vào trung tâm thay thế sao trước nó để làm chủ vận trong tháng đó. Chu kỳ vận hành của cửu tinh theo tháng được xếp thành 3 nhóm theo tên Chi của năm. Cụ thể là: Nhóm các năm Tý Ngọ Mão Dậu, nhóm Thìn Tuất Sửu Mùi, nhóm Dần Thân Tị Hợi. Các sao của Tháng bay vào trung tâm theo thứ tự lùi. Còn khi phi tinh từng tháng thì các sao vận hành tiến theo đường Lượng thiên xích. Ta có Bảng 2.3 tóm lược quy luật vận hành cửu tinh vào trung tâm theo tháng.

 Phi tinh theo Nguyệt vận 1

2. Phi tinh theo Nhật vận
Các sao vận hành vào trung tâm theo Ngày theo quy luật vòng xoắn thuận nghịch, được chia thành 2 nửa của năm Can Chi, mỗi nửa 180 ngày.
Nửa đầu tính từ tiết Đông chí đến tiết Mang chủng. Trong nửa này vào ngày Giáp tý đầu tiên sao Nhất bạch thuỷ sẽ vào trung tâm. Tiếp theo các sao khác sẽ thay thế từng ngày theo thứ tự tiến (thuận).
Nửa sau tính từ tiết Hạ chí đến tiết Đại tuyết. Trong nửa này, ngày Giáp tý đầu tiên có sao Cửu tử hoả vào trung tâm. Tiếp theo, các sao khác lần lượt vào trung tâm thay thế từng ngày theo thứ tự lùi (nghịch).
Do nãm âm lịch có số ngày dài ngắn khác nhau, còn năm theo tiết khí thì có 365,25 ngày, nên cửu tinh thường đi trước tiết Đông chí từ 5 đến 10 ngày. Vì vậy trong nửa nãm đầu, nếu ngày Giáp Tý đầu tiên không đúng vào tiết Đông chí thì lấy ngày Giấp Tý gần nhất trước hoặc sau Đông chí, là ngày có sao Nhất bạch thuỷ vào trung tâm. Còn trong nửa năm cuối thì lấy ngày Giáp Tý gần nhất trước hoặc sau Hạ chí, là ngày có sao Cửu tử hoả vào trung tâm.
Như vậy để có thể phi tinh theo Ngày, ta cần phải biết đủ ngày đó thuộc năm, tháng nào và tiết khí gì. Bảng 2.4 tính sẵn các sao vào trung tâm cho 60 ngày Can Chi. Khi đã xác định được sao vào trung tâm rồi thì việc phi tinh được tiến hành theo thứ tự vận hành tiến của Lượng thiên xích.

 Phi tinh theo Nguyệt vận 1

 Phi tinh theo Nguyệt vận 1

Cửu tinh còn vận hành theo 12 giờ địa chi, mỗi giờ có một sao bay vào trung tâm và chủ vận giờ đó. Quy luật vận hành tiến lùi cửu tinh được thay đổi tuỳ theo ngày và tiết khí trong nãm. Trong đó từ ngày đông chí đến Hạ chí các sao vào trung tâm bay tiến (thuận), Từ ngày Hạ chí đến ngày Đông chí các sao bay lùi (nghịch). Cụ thể ta có các sao vào trung tâm được nêu ở Bảng 2.5.

 Phi tinh theo Nguyệt vận 1

 

 

Vòng sao Phúc đức

a) Ý nghĩa các sao
Trong bản đồ trạch quẻ có vòng sao Phúc đức ở vòng thứ 4 (Hình 2.12) gồm 24 sao, chủ 24 phương. Trong số này có những sao tốt và những sao xấu. Khi xây dựng nhà, ta cố gắng đặt hướng nhà, hướng cổng nằm vào cung có sao tốt. Tính tốt xấu của các sao thể hiện như sau [11, 47, 65]:
1/ Sao Phúc đức: Sao tốt, đại cát. Chủ về phúc tài lộc. Cửa chính của nhà có sao Phúc đức chiếu thì mọi sự thuận lợi, nhân khẩu tăng, kinh tế phát triển, sự nghiệp thành đạt.
2/ Sao Ôn hoàng: Sao xấu. Chủ về bệnh tật. Nhà đặt cửa vào phương vị này thì hao người tốn của, kinh tế khó khăn, sự nghiệp khó thành, dễ thị phi.
3/ Sao Tấn tài: Sao tốt. Chủ về tiền của. Hướng cửa được sao này chiếu đến thì tăng nhân khẩu, điền trạch thịnh đạt, có tài có danh, kinh tế thịnh đạt.
4/ Sao Trường bệnh: Sao xấu. Chủ về bệnh tật. Nhà có sao này chiếu tới thì dễ sinh bệnh tật, hao tiền tốn của, con cháu kém phát triển.
5/ Sao Tô’ tụng: Sao xấu. Chủ về kiện tụng. Nhà có sao này chiếu vào cửa chính thì cuộc sống không được yên ổn, dễ bị tranh chấp kiện tụng, tiền của hao tốn. Có khi tai hoạ đến bất ngờ.
6/ Sao Quan lộc (Quan tước): Sao tốt. Chủ về thăng tiến quan lộc. Nhà có cửa chính đặt theo hướng này thì nhân khẩu tiền tài đều tăng trưởng, học hành thành đạt, thăng quan tiến chức nhanh.
7/ Sao Quan quý: Sao tốt. Chủ về sự thành đạt hiển vinh. Nhà có cửa chính được sao này chiếu đến thì sinh quý tử, điền trạch thịnh vượng, giàu có, thăng tiến nhanh, người trong nhà có chức vị cao trong xã hội, trường thọ.
8/ Sao Tự ải: Sao xấu. Chủ về tai ương hoạn nạn. Nhà gặp sao này chiếu đến thì kinh tế khó phát triển, thiệt nhân khẩu, nam thì tha phương, nữ dễ bệnh tật, nhất là lúc sinh nở.
9/ Sao Vượng trang: Sao tốt. Chủ tăng tài lộc. Nhà có sao này chiếu kinh tế phát triển, nhân khẩu tăng, điền trạch gia tăng. Lợi cho chủ mệnh.
10/ Sao Hưng phúc: Sao tốt. Chủ về phúc thọ. Cửa chính của nhà được sao này chiếu thì có tài lộc, trường thọ, thăng quan chức, con cháu trong nhà sống hiếu thuận, phúc nhà lớn. Lợi cho con thứ.
11/ Sao Pháp trường: Sao xấu. Chủ về tai hoạ. Nhà có sao này chiếu thì đoản thọ, hay gặp hoạn nạn, có khi kiện cáo tù đày.
12/ Sao Điên cuồng: Sao xấu. Chủ về dâm tà. Nhà có sao này chiếu thì nhà thường dâm loạn, rượu chè, con cái sống phóng đãng, gia đình bất an, hao tiền tốn của.
13/ Sao Khẩu thiệt: Sao xấu. Chủ về tai tiếng. Nhà có sao này chiếu thì dễ bị tai tiếng, bị vu oan, tai hoạ có khi đến bất ngờ, con cái bạo ngược, nhân khẩu tổn hao, kinh tê thất bát.
14/ Sao Vượng tân: Sao tốt. Chủ vượng tài sản, điền thổ. Nhà có sao này chiếu thì tài lộc nhân khẩu đều tăng, điền sản phong lưu, nhiều con cháu, gia phong tốt.
15/ Sao Tấn điển: Sao tốt. Chủ về phúc trạch. Nhà có sao này chiếu thì phúc lộc lâu bền, con cháu hiền tài, nhà cửa ruộng vườn sung túc, kinh tế phát triển.
16/ Sao Khốc khấp: Sao xấu. Chủ về than khóc. Nhà có sao này chiếu thì dễ gặp tai hoạ, bệnh tật, đoản thọ, gia tài bị phá hại, kinh tế khó khăn.
17/ Sao cô quả: Sao xấu. Chủ về cô đơn goá bụa. Gặp sao này chiếu thì goá bụa, người trong nhà sống tha phương, kinh tế thất bại, gia đình tan nát.
18/ Sao Vinh phú: Sao tốt. Chủ vinh hoa phú quý. Nhà có sao này chiếu thì gia đình hạnh phúc, tăng nhân khẩu, kinh tế phát triển, được vinh hoa phú quý. Sao này tốt nhất cho người mệnh Hoả.
19/ Sao Thiếu vong: Sao xấu. Chủ về ăn chơi quá độ. Gặp sao này chiếu thì người trong nhà ăn chơi quá độ, rượu chè, trai gái, hại nhân khẩu, bệnh tật chết trẻ, nhất là phụ nữ dễ lâm bệnh và khó khỏi, kinh tế gia đình suy bại.
20/ Sao Xương dâm: Sao xấu. Chủ vể hoang dâm. Gặp sao này chiếu vào cửa chính thì người nhà dễ mắc hoang dâm vô độ, có khi dẫn đến gia phong lụn bại, kinh tế gia đình hao tổn.
21/ Sao Thân hôn: Sao tốt. Chủ hôn nhân tiền tài. Nhà có sao này chiếu tới thì nhân khẩu tăng, kinh tế phát triển, dễ gặp thuận lợi. Sao này hợp với người mệnh Hoả.
22/ Sao Hoan lạc: Sao tốt. Chủ về tiền của. Nhà có sao này chiếu thì làm ăn phát đạt, điền trạch kinh tế hưng vượng, dễ gặp thuận lợi. Sao này họp với người mệnh Thuỷ.
23/ Sao Tuyệt bại: Sao xấu. Chủ tuyệt tự bại sản. Gập sao này chiếu vào cửa nhà thì gia sản lụn bại, gia đình chia ly, cuộc đời đoản thọ.
24/ Sao Vượng tài: Sao tốt. Chủ về trường thọ và giàu sang. Nhà có sao này chiếu thì cuộc sống trường thọ, gia sản phong lưu, con cái hiếu thảo. Lợi cho người có mệnh Hoả.
Chú thích:
– Trên mỗi Trạch quẻ ở Phụ lục 3, các sao có dấu chấm đen đặt ở dưới là sao tốt.
– Những khía cạnh tốt xấu của các sao nêu trên chỉ nên hiểu là tương đối. Tốt xấu còn do sự nỗ lực của bản thân mỗi người trong gia đình. Không thể có sao tốt chiếu tới là mặc nhiên cứ tốt, ngược lại gặp sao xấu là mặc nhiên cứ xấu. Trong sự nỗ lực của mỗi con người, nếu gặp sao tốt thì sự may mắn sẽ dễ may mắn hơn, còn gặp sao xấu thì mức độ xấu cũng giảm đi. Không có sự phấn đấu nỗ lực của con người thì tốt xấu của các sao đều không có nghĩa.
b) Thứ tự xếp vòng sao Phúc đức
Vòng sao Phúc đức được xếp trên từng Trạch quẻ của Hậu thiên bát quái theo nguyên tắc bắt đầu từ 1- sao Phúc đức, rồi theo chiều kim đồng hồ đến 2- sao Ôn hoàng, tiếp 3- sao Tấn tài, 4- sao Trường bệnh v.v… Cuối cùng là sao Vượng tài, theo thứ tự từ 1 đến 24 sao nêu trên.
Vị trí sao Phúc đúc trên mỗi Trạch quẻ được xếp trong vòng sao Phúc đức như sau: Càn trạch: Phúc đức tại cung Thân.
Đoài trạch: Phúc đức tại cung Hợi;
Ly trạch: Phúc đức tại cung Thân;
Chấn trạch: Phúc đức tại cung Tị;
Tốn trạch: Phúc đức tại cung Tị;
Khảm trạch: Phúc đức tại cung Dần;
Cấn trạch: Phúc đức tại cung Giáp;
Khôn trạch: Phúc đức tại cung Hợi;
Bạn đọc có thể xem trên bản đồ các Trạch quẻ ở Phụ lục 3 để thấy vị trí sao Phúc đức cho từng trạch quẻ như đã nêu trên.

Vòng sao Phúc đức

a) Ý nghĩa các sao
Trong bản đồ trạch quẻ có vòng sao Phúc đức ở vòng thứ 4 (Hình 2.12) gồm 24 sao, chủ 24 phương. Trong số này có những sao tốt và những sao xấu. Khi xây dựng nhà, ta cố gắng đặt hướng nhà, hướng cổng nằm vào cung có sao tốt. Tính tốt xấu của các sao thể hiện như sau [11, 47, 65]:
1/ Sao Phúc đức: Sao tốt, đại cát. Chủ về phúc tài lộc. Cửa chính của nhà có sao Phúc đức chiếu thì mọi sự thuận lợi, nhân khẩu tăng, kinh tế phát triển, sự nghiệp thành đạt.
2/ Sao Ôn hoàng: Sao xấu. Chủ về bệnh tật. Nhà đặt cửa vào phương vị này thì hao người tốn của, kinh tế khó khăn, sự nghiệp khó thành, dễ thị phi.
3/ Sao Tấn tài: Sao tốt. Chủ về tiền của. Hướng cửa được sao này chiếu đến thì tăng nhân khẩu, điền trạch thịnh đạt, có tài có danh, kinh tế thịnh đạt.
4/ Sao Trường bệnh: Sao xấu. Chủ về bệnh tật. Nhà có sao này chiếu tới thì dễ sinh bệnh tật, hao tiền tốn của, con cháu kém phát triển.
5/ Sao Tô’ tụng: Sao xấu. Chủ về kiện tụng. Nhà có sao này chiếu vào cửa chính thì cuộc sống không được yên ổn, dễ bị tranh chấp kiện tụng, tiền của hao tốn. Có khi tai hoạ đến bất ngờ.
6/ Sao Quan lộc (Quan tước): Sao tốt. Chủ về thăng tiến quan lộc. Nhà có cửa chính đặt theo hướng này thì nhân khẩu tiền tài đều tăng trưởng, học hành thành đạt, thăng quan tiến chức nhanh.
7/ Sao Quan quý: Sao tốt. Chủ về sự thành đạt hiển vinh. Nhà có cửa chính được sao này chiếu đến thì sinh quý tử, điền trạch thịnh vượng, giàu có, thăng tiến nhanh, người trong nhà có chức vị cao trong xã hội, trường thọ.
8/ Sao Tự ải: Sao xấu. Chủ về tai ương hoạn nạn. Nhà gặp sao này chiếu đến thì kinh tế khó phát triển, thiệt nhân khẩu, nam thì tha phương, nữ dễ bệnh tật, nhất là lúc sinh nở.
9/ Sao Vượng trang: Sao tốt. Chủ tăng tài lộc. Nhà có sao này chiếu kinh tế phát triển, nhân khẩu tăng, điền trạch gia tăng. Lợi cho chủ mệnh.
10/ Sao Hưng phúc: Sao tốt. Chủ về phúc thọ. Cửa chính của nhà được sao này chiếu thì có tài lộc, trường thọ, thăng quan chức, con cháu trong nhà sống hiếu thuận, phúc nhà lớn. Lợi cho con thứ.
11/ Sao Pháp trường: Sao xấu. Chủ về tai hoạ. Nhà có sao này chiếu thì đoản thọ, hay gặp hoạn nạn, có khi kiện cáo tù đày.
12/ Sao Điên cuồng: Sao xấu. Chủ về dâm tà. Nhà có sao này chiếu thì nhà thường dâm loạn, rượu chè, con cái sống phóng đãng, gia đình bất an, hao tiền tốn của.
13/ Sao Khẩu thiệt: Sao xấu. Chủ về tai tiếng. Nhà có sao này chiếu thì dễ bị tai tiếng, bị vu oan, tai hoạ có khi đến bất ngờ, con cái bạo ngược, nhân khẩu tổn hao, kinh tê thất bát.
14/ Sao Vượng tân: Sao tốt. Chủ vượng tài sản, điền thổ. Nhà có sao này chiếu thì tài lộc nhân khẩu đều tăng, điền sản phong lưu, nhiều con cháu, gia phong tốt.
15/ Sao Tấn điển: Sao tốt. Chủ về phúc trạch. Nhà có sao này chiếu thì phúc lộc lâu bền, con cháu hiền tài, nhà cửa ruộng vườn sung túc, kinh tế phát triển.
16/ Sao Khốc khấp: Sao xấu. Chủ về than khóc. Nhà có sao này chiếu thì dễ gặp tai hoạ, bệnh tật, đoản thọ, gia tài bị phá hại, kinh tế khó khăn.
17/ Sao cô quả: Sao xấu. Chủ về cô đơn goá bụa. Gặp sao này chiếu thì goá bụa, người trong nhà sống tha phương, kinh tế thất bại, gia đình tan nát.
18/ Sao Vinh phú: Sao tốt. Chủ vinh hoa phú quý. Nhà có sao này chiếu thì gia đình hạnh phúc, tăng nhân khẩu, kinh tế phát triển, được vinh hoa phú quý. Sao này tốt nhất cho người mệnh Hoả.
19/ Sao Thiếu vong: Sao xấu. Chủ về ăn chơi quá độ. Gặp sao này chiếu thì người trong nhà ăn chơi quá độ, rượu chè, trai gái, hại nhân khẩu, bệnh tật chết trẻ, nhất là phụ nữ dễ lâm bệnh và khó khỏi, kinh tế gia đình suy bại.
20/ Sao Xương dâm: Sao xấu. Chủ vể hoang dâm. Gặp sao này chiếu vào cửa chính thì người nhà dễ mắc hoang dâm vô độ, có khi dẫn đến gia phong lụn bại, kinh tế gia đình hao tổn.
21/ Sao Thân hôn: Sao tốt. Chủ hôn nhân tiền tài. Nhà có sao này chiếu tới thì nhân khẩu tăng, kinh tế phát triển, dễ gặp thuận lợi. Sao này hợp với người mệnh Hoả.
22/ Sao Hoan lạc: Sao tốt. Chủ về tiền của. Nhà có sao này chiếu thì làm ăn phát đạt, điền trạch kinh tế hưng vượng, dễ gặp thuận lợi. Sao này họp với người mệnh Thuỷ.
23/ Sao Tuyệt bại: Sao xấu. Chủ tuyệt tự bại sản. Gập sao này chiếu vào cửa nhà thì gia sản lụn bại, gia đình chia ly, cuộc đời đoản thọ.
24/ Sao Vượng tài: Sao tốt. Chủ về trường thọ và giàu sang. Nhà có sao này chiếu thì cuộc sống trường thọ, gia sản phong lưu, con cái hiếu thảo. Lợi cho người có mệnh Hoả.
Chú thích:
– Trên mỗi Trạch quẻ ở Phụ lục 3, các sao có dấu chấm đen đặt ở dưới là sao tốt.
– Những khía cạnh tốt xấu của các sao nêu trên chỉ nên hiểu là tương đối. Tốt xấu còn do sự nỗ lực của bản thân mỗi người trong gia đình. Không thể có sao tốt chiếu tới là mặc nhiên cứ tốt, ngược lại gặp sao xấu là mặc nhiên cứ xấu. Trong sự nỗ lực của mỗi con người, nếu gặp sao tốt thì sự may mắn sẽ dễ may mắn hơn, còn gặp sao xấu thì mức độ xấu cũng giảm đi. Không có sự phấn đấu nỗ lực của con người thì tốt xấu của các sao đều không có nghĩa.
b) Thứ tự xếp vòng sao Phúc đức
Vòng sao Phúc đức được xếp trên từng Trạch quẻ của Hậu thiên bát quái theo nguyên tắc bắt đầu từ 1- sao Phúc đức, rồi theo chiều kim đồng hồ đến 2- sao Ôn hoàng, tiếp 3- sao Tấn tài, 4- sao Trường bệnh v.v… Cuối cùng là sao Vượng tài, theo thứ tự từ 1 đến 24 sao nêu trên.
Vị trí sao Phúc đúc trên mỗi Trạch quẻ được xếp trong vòng sao Phúc đức như sau: Càn trạch: Phúc đức tại cung Thân.
Đoài trạch: Phúc đức tại cung Hợi;
Ly trạch: Phúc đức tại cung Thân;
Chấn trạch: Phúc đức tại cung Tị;
Tốn trạch: Phúc đức tại cung Tị;
Khảm trạch: Phúc đức tại cung Dần;
Cấn trạch: Phúc đức tại cung Giáp;
Khôn trạch: Phúc đức tại cung Hợi;
Bạn đọc có thể xem trên bản đồ các Trạch quẻ ở Phụ lục 3 để thấy vị trí sao Phúc đức cho từng trạch quẻ như đã nêu trên.

Trạch quẻ là gì?

1. trạch quẻ là gì?
Trạch nghĩa là lựa chọn, ở đây là lựa chọn đất tốt để xây dựng nhà. Trạch quẻ nói nôm na là Bản đồ sơn hướng dùng để chọn đất làm nhà phù hợp với Mệnh quái của chủ nhà. Đây là một sáng tạo quan trọng của người xưa ở phương Đông, dùng cho xây dựng nhà đạt đến yêu cầu Thiên Địa Nhân hợp nhất, không phải là sản phẩm mang tính duy tâm như nhiều người quan niệm. Chúng ta cần nghiên cứu vấn đề này một cách đầy đủ và khách quan hơn.
Trong mục 1.8 đã giới thiệu cách tính Mệnh tinh và Mệnh quái của mỗi người. Theo đó có 8 Mệnh qụái là Càn, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn. Các Mệnh quái này được phân ra:
Đông tứ mệnh gồm có 4 Quái: Chấn, Tốn, Ly, Khảm. Tương ứng với các hướng
Đông, Đông Nam, Nam, Bắc.
Tây tứ mệnh gồm 4 Quái: Càn, Đoài, Khôn, Cấn. Tương ứng với các hướng:
Tây Bắc, Tây, Tây Nam, Đông Bắc.
Mỗi người trong chúng ta đều mang cho mình một Mệnh quái. Để tiện cho việc thiết kế nhà, người xưa đã thiết lập một bản đồ trạch nhà gọi là Trạch quẻ. Trạch quẻ cũng có 8 và phân ra 2 nhóm theo mối quan hệ tương sinh như sau:
Nhóm thứ nhất- Thổ sinh Kim- gồm các Mệnh quái Càn Đoài ( mang hành Kim) và Cấn Khôn (mang hành Thổ). Vì trong số này có 3 quẻ Càn Đoài Khôn nằm ở phía Tây trong bản đồ Hậu thiên bát quái, nên nhóm này được gọi là Tây tứ trạch.
Nhóm thứ 2- Thuỷ sinh Mộc, Mộc sinh Hoả – gồm các Mệnh quái Khảm (mang hành Thuỷ), Chấn (Mộc), Tốn (Mộc), Ly (Hoả). Nhóm này được gọi là Đông tứ trạch.
Vì 2 nhóm này mang Hành khắc nhau, nên ứng dụng vào việc làm nhà thì người thuộc Đông tứ mệnh nên dùng Trạch quẻ thuộc Đông tứ trạch. Ngược lại, người thuộc Tây tứ mệnh thì dùng Trạch quẻ thuộc Tây tứ trạch. Nếu dùng lẫn nhóm nọ sang nhóm kia thì dễ bị xung khắc.
Như vậy, khi dùng trạch quẻ để xây dựng nhà thì cần đảm bảo nguyên tắc là: Người có Mệnh quái thuộc Đông tứ mệnh thì dùng Trạch quẻ thuộc Đông tứ trạch; Người có mệnh quái là Tây tứ mệnh thì dùng Trạch quẻ thuộc Tây tứ trạch.
2. Bản đồ Trạch quẻ
Ta lấy thí dụ một bản đồ Trạch quẻ Chấn, gọi là Chấn trạch để phân tích (Hình 2.12). Cấu tạo Chấn trạch gồm có các vòng sau đây:
Vòng trong cùng ghi tượng hình và tên quẻ Chấn, mặt quay về phương Phục vị.
Cửa chính của nhà thường đặt vào phương này;
Vòng trong thứ 2 là 8 hướng;
Vòng thứ 3 là 8 quẻ trong Hậu thiên bát quái. Tên các quẻ này là không thay đổi ở cả 8 Trạch quẻ. ứng với mỗi quẻ là một Du niên (xem mục 1.7). Các Du niên ở các Trạch quẻ thì có thay đổi khác nhau thể hiện sự biến đổi của Trạch quẻ so với các quẻ khác trong Hậu thiên bát quái.

Trạch quẻ là gì? 1

Vòng thứ 4 ghi vòng sao Phúc đức. Trong đó Chấn trạch có sao Phúc đức tại Tị. Trong vòng sao Phúc đức những sao nào có dấu chấm đặt ở dưới là sao tốt;
Vòng thứ 5 ghi tên của 24 son hướng;
Vòng thứ 6 ghi khắc chia độ của vòng tròn 360°, bắt đầu 0° tại Khảm (Phưcng Bắc), 180° ở Ly (phưong Nam). Điều này là cô’ định cho tất cả 8 Trạch quẻ.
Ngoài cùng có ghi mức cát hung của mỗi Du niên. Ta thấy trong các cung thuộc Du niên tốt (cát) vẫn có cả những sao xấu. Ngược lại ở các Du niên xấu cũng vẫn có sao tốt. Đó là đặc điểm của Dịch học: trong Âm có Dương, trong Dương có Âm.
Các bản đồ của các Trạch quẻ khác cũng có cấu tạo theo nguyên tắc như trên.
Với cấu tạo một trạch quẻ như thế này, người dùng sẽ rất tiện lợi, chỉ việc xem mình thuộc Mệnh quái nào thì đem Trạch quẻ đó ra mà dùng. Thí dụ: bạn thuộc Mệnh quái Tốn thì chọn Tốn trạch ra dùng. Tác giả đã có đủ 8 Trạch quẻ in trong Phụ lục 3 để bạn đọc tiện sử dụng. Cách dùng được hướng dẫn trong mục 4.1.
3. Vòng 24 sơn hướng
Trong Bản đồ Trạch quẻ ở Hình 2.12 có vòng thứ 5 chứa đựng 24 Sơn Hướng, mỗi Sơn Hướng quản 15° của vòng tròn 360°. Các Sơn Hướng này gồm có 12 Chi, 8 Can và 4 Quẻ của Bát quái Hậu thiên. Như vậy mỗi cung của Bát quái quản 3 Sơn Hướng, tức 45°. Nguyên tắc bố trí tên các Sơn Hướng này như sau: 12 Chi được xếp theo đường thuận chiều kim đồng hồ, căn cứ theo 12 tiết của Tháng, bắt đầu từ Dần (Tháng Giêng). Các Chi này được xếp cách đoạn cứ 1 chi
Dương lại đến 1 Chi Âm, tạo thành 6 cặp xung nhau sau đây đúng như sơ đồ trên ‘ Hình 1.3:
Tý Ngọ xung nhau, Mão Dậu xung nhau Thìn Tuất xung nhau, Sửu Mùi xung nhau Dần Thân xung nhau, Tị Hợi xung nhau. Trong đó Tý Ngọ Mão Dậu đóng tương ứng ở trục Tứ chính là Bắc Nam Đông Tày (Hình 2.13.a).
8 Can được xếp cân đối 2 bên trục Tứ chính, Can Dương bên trái, Can Âm bên phải. Cụ thế: Giáp (+) ở bên trái Mão, At (-) bên phải Mão; Can Bính (+) bên trái
Ngọ, Đinh (-) bên phải Ngọ; Can Canh (+) bên trái Dậu, Tân (-) bên phải Dậu; Can Nhâm (+) bên trái Tý, Quý (-) bên phải Tý (Hình 2.13.b). Còn 4 quẻ được bố trí vào 4 Phương thuộc trục Tứ duy là Tốn ở Đông Nam, Khôn ở Tây Nam, Càn ở Đông Bắc và Cấn ở Đông Bắc (Hình 2.13.b).

Trạch quẻ là gì? 1

Cân bằng âm dương khí

Khí bao gồm Dương khí và Âm khí. Đặc điểm của Dương khí là khô, nóng, có tính “cứng”. Đặc điểm của Âm khí là ẩm, lạnh, có tính “mềm”. Trong một ngôi nhà thì phần trước nhà thường mang khí Dương, phần sau nhà mang khí Âm (Hình 2.10).

Cân bằng âm dương khí 1

Trong một ngôi nhà hay một công trình thì âm dương khí luôn phải hài hoà. Nhà nhiều Dương khí quá thì cuộc sống sẽ luôn cảm thấy bức bách khó chịu, người trong nhà dễ xung khắc nhau, phụ nữ thường hay bệnh tật, dễ cáu gắt, gia đình khó được hoà thuận. Trong môi trường khí hậu nóng ẩm nước ta, những nhà dùng nhiều cửa kính quá sẽ gập trường hợp này. Ngược lại, nhà có nhiều âm khí quá thì cuộc sống ảm đạm, dễ ốm đau, dễ sinh bệnh tật. Nhà ở quá thấp hoặc luôn thiếu ánh sáng sẽ gặp tình trạng này. Điều đó đặt ra đối với người thiết kế là phải tạo được bầu không khí âm dương hài hoà trong công trình. Khi đó nhà sẽ sáng sủa, thoáng, không khí mát mẻ, dễ chịu.
3) Khí trong ngôi nhà
Để tạo được khí tốt trong nhà thì phải dẫn được khí tốt vào nhà và tụ được nó trong nhà. Đó là phần việc của người thiết kế. Tạo khí là một nghệ thuật quan trọng của tác phẩm thiết kế nhà ở và công trinh. Nhà phải tụ khí chứ không tán khí, phải chuyển khí chứ không tích khí, cũng không tạt khí. Chỗ gió lùa là tạt khí, vùng “chết” trong nhà là tích khí, làm khí ứ đọng không luân chuyển được (Hình 2.11).
Trên hình 2.11.a) ta thấy 3 cửa đi thẳng nhau đã tạo ra vùng tạt khí (gió lùa) và vùng tích khí chiếm phần lớn diện tích của 2 phòng. Rõ ràng phương án bố trí cửa như thế này đã không tạo được sự luân chuyển khí trong các phòng. Trong khi đó ở phương án
2.1 l.b) thì, do bố trí cửa đi và cửa sổ hợp lý hơn, đã không tạo ra vùng tạt khí, vùng tích khí cũng rất nhỏ chỉ ở phòng trong.

Cân bằng âm dương khí 1

Khí vào nhà bằng đường qua cửa đi, cửa sổ và qua mái nhà. Vị trí và hướng của cửa đi chính (đại môn) là rất quan trọng để đưa Sinh khí vào nhà. cửa chính phải đón được gió chủ đạo (ở Việt nam thường là gió Đông Nam) vì khí là hồn của gió.
Muốn tạo được sinh khí vào nhà thì phải dẫn khí vào các cửa theo đường “Khúc” (hữu tình), chứ không bằng đường “Trực” (vô tình). Nghĩa là khí không đi thẳng vào cửa nhà mà phải đi lượn vào. Ngôi nhà mà luôn có khí xông thẳng vào thì rất nguy hiểm.
Mái nhà cũng là đường đi quan trọng của khí để vào nhà. Muốn cho khí vào qua mái thì mái nhà phải có cấu tạo thoáng, giữ được nước mưa không rơi vào nhà, nhưng có khe thông thoáng khí. Mái nhà lợp gianh, nứa, lá, lợp ngói (nhất là ngói ta) là thích hợp với điểu kiện này. Mái nhà lợp tôn bị hạn chế hơn, nên cần có cửa thông mái. Còn mái nhà bằng bê tông thì khí không vào được qua mái. Khi cấu tạo mái có trần thì cần phải có cửa thông trần để cho khí có thể lưu thông từ dưới nhà lên mái, rồi ra không gian ngoài trời và ngược lại.

 Sống thuận khí
Trong thời đại nền kỹ thuật công nghiệp phát triển như hiện nay, nhiều người cho rằng có thể bằng kỹ thuật mà tạo lập được một môi trường khí tốt cho cuộc sống. Thí dụ có thế dùng máy điều hoà nhiệt độ để tạo ra bầu không khí mát trong nhà, thay vì cứ phải tận dụng gió thiên nhiên. Quan niệm như vậy là chưa phù hợp nguyên tắc Thiên Địa Nhân hợp nhất. Con người sống trên trái đất không ai cưỡng nổi quy luật chi phối của vũ trụ. Vì vậy cho dù trong nền kinh tế hay kỹ thuật phát triển đến đâu thì cuộc sống của con người vẫn phải thuận theo quy luật của tự nhiên. Giống như ta phải sống chung với lũ, hạn chế tác hại của lũ chứ không chống được lũ. Trong thời đại nền đại công nghiệp phát triển như hiện nay, loài người hơn bao giờ hết nhận thức được tác hại của sự tàn phá môi trường tự nhiên.
Con người phải được bồi bổ bằng khí Giao, nghĩa là bằng khí cân bằng Thiên Địa Nhân. Nói cách khác, thuận theo khí tự nhiên mới có cuộc sống bền vững. Điều này cần được coi trọng. Thế giới sau nửa thế kỷ cận đại phát triển khoa học kỹ thuật, đã mải mê xây dựng nhiều thành phố, khu dân cư, khu công nghiệp hiện đại, tạm quên đi yêu cầu cân bằng Thiên Địa Nhân, đã nhận ra rằng: Loài người đang dứng trước nguy cơ 3P không dễ gì giải quyết được. Đó là “Nguyên liệu cạn kiệt” (Poverty), “Ô nhiễm môi trường” (Pollution) và “Dân số bùng nổ” (Population). Vậy mà cách đây mấy ngàn năm, người xưa đã đặt vấn đề Thiên Địa Nhân hợp nhất. Cho nên những quan niệm cổ của người xưa, chúng ta chớ có coi thường.
Loài người hiện nay đã quen thuộc với ứng dụng sóng vi ba: Sóng viba được dùng trong y học để chẩn đoán và chữa bệnh, trong nông nghiệp để nâng cao hiệu suất nảy mầm của hạt giống, trong công nghiệp dùng để làm chín thực phẩm v.v… Hiện nay ở các đô thị không mấy nhà bếp không có lò vi sóng. Vậy mà cách đây hàng ngàn năm người Trung Quốc đã có những lý thuyết không khác gì loài người dùng kỹ thuật sóng viba bây giờ.
Thuyết “Sơn hoàn thuỷ bão tất hữu khí” (Núi bao vòng nước uốn cong thì tụ khí) để tụ khí cũng giống như ăng ten viba hình chảo để thu sóng;
Sân nhà để tụ khí giống như khoang hoà sóng trong kỹ thuật viba;
Sông suối, đường ỏ tô dẫn khí giống như đường dẫn sóng trong kỹ thuật viba;
Vật chướng ngại trước cửa nhà (như cột điện, cây to) và phép hoá giải cũng giống như việc chắn sóng và thu sóng trong kỹ thuật viba;
Ảnh hưởng của gió đối với Khí trong phong thuỷ học tương tự như ảnh hưởng của tầng đối lưu với sóng viba
“Huyệt vị trong phong thuỷ học cũng tương tự như “tiêu điểm tụ điện từ” trong kỹ thuật viba.
Với những trùng lặp giữa kỹ thuật hiện đại với lý thuyết cổ phương Đông nêu trên cho ta thấy tính khoa học của lý thuyết cổ này, mà không dễ gì coi đó là “mê tín” được.
Những lý luận về Khí nêu trên cho thấy cần phải có sự quan tâm đúng mức tới vấn đề Khí trong công trình xây dựng. Việc này cần phải có trong quan niệm của mỗi người làm xây dựng, đặc biệt là người thiết kế, trong công việc thiết kế, quy hoạch, xây dựng hàng ngày, trong các tiêu chuẩn kỹ thuật và cả trong đào tạo.

Âm dương, ngũ hành, can chi – P2

1) Địa chi tương hợp
Địa chi tương hợp có thể là nhị hợp hoặc tam họp.
a. Nhị hợp
Địa chi hợp nhau từng đôi một: Dần hợp Hợi, Mão hợp Tuất, Thìn hợp Dậu, Tị hợp Thân, Ngọ hợp Mùi, Sửu hợp Tý. Tính tương họp này được thể hiện trên sơ đồ Hình 1.2.

Âm dương, ngũ hành, can chi - P2 1

Địa chi tạo thành các Tam hợp cục sau đây: Dần Ngọ Tuất
Tị Dậu Sửu Thân Tý Thìn Hợi Mão Mùi
2) Địa chi tương xung
Địa chi xung nhau từng đôi một: Dần xung Thân, Tị xung Hợi, Tý xung Ngọ, Mão xung Dậu, Thìn xung Tuất, Sửu xung Mùi. Quan hệ tương xung địa chi được thể hiện ở Hình 1.3.
Chú ý: Trong Hình 1.3 được hiểu như sau: Dần Thân, Tị Hợi cả xung và khắc nhau từng đôi một. Nghĩa là Dần xung khắc với Thân, không xung khắc với Tị Hợi. Cũng vậy, Tị xung khắc với Hợi, không xung khắc với Dần Thân. Còn Thìn Tuất, Sửu Mùi thì chỉ có xung nhau từng đôi một mà không có khắc nhau. Nghĩa là: Thìn xung với Tuất, không xung với Sửu Mùi. Cũng vậy: Sửu xung với Mùi mà không xung với Thìn Tuất. 

Âm dương, ngũ hành, can chi - P2 1

3) Địa chi tương hình (tương phạt)
a) Tương hình đôi một
Địa chi hình, phạt nhau từng đôi một: Dần hình Tị, Thân hình Hợi, Mão hình Thìn, Dậu hình Tuất, Sửu hình Ngọ, Tý hình Mùi. Sơ đồ tương hình thể hiện ở Hình 1.4.

Âm dương, ngũ hành, can chi - P2 1

4) Cách nhớ trên bàn tay trái
Bạn đọc có thể dễ nhớ hơn về quan hệ tương hợp tương xung của 12 Chi trên sơ đồ bàn tay trái (Hình 1.5). Bắt đầu chi Tý đặt tại chân ngón đeo nhẫn. Tiếp theo cứ theo chiều kim đồng hồ của mỗi ngón tay: Sửu, Dần, Mão… đến Hợi là chằn ngón út. Quan hệ tương hợp xung được thẻ hiện trên hình vẽ.

Âm dương, ngũ hành, can chi - P2 1

Trong xây dựng nhà, tính tương hợp, tương xung, tương hình của Địa chi được dùng để xem xét tính hợp hay xung giữa tuổi của chủ nhà với hướng nhà, xem ngày động thổ, hướng động thổ w… và dùng nhiều trong Dự đoán về nhà đất.
5) Nguyên tắc ghép Can Chi
– Can Chi được ghép theo nguyên tắc Can dương ghép với Chi dương, thí dụ: Giáp Tý, Bính Dần; Can âm ghép với Chi âm, thí dụ: Đinh Mão, Kỷ Tị.
– Can Chi của năm: Theo người xưa quy định thì Can Chi của năm được bắt đầu từ năm Giáp Tý đầu tiên của kỷ nguyên Can Chi. Tính theo vòng 60 Giáp Tý thì đến nay là vòng thứ 79 (từ năm 1984 đến năm 2043). Muốn tìm năm Can Chi thì cần phải tra trong Lịch vạn niên.
Can Chi của tháng: Lấy tháng Giêng là chi Dần (một số tài liệu cho là vì đuôi sao Bắc Đẩu nằm vào cung Dần). Tiếp theo tháng 2 là Chi Mão, tháng 3- Thìn w… Can Chi của tháng đầu tiên của kỷ nguyên Can Chi cũng bắt đầu từ tháng Giáp Tý của năm Giáp Tý đầu tiên.
Can Chi của ngày: Can Chi của ngày bắt đầu từ ngày Giáp tý của tháng Giáp tý của năm Giáp Tý khởi đầu, và theo vòng 60 ngày của vòng Giáp tý liên tục cho tới ngày nay. Vì vậy muốn tìm Can Chi của ngày cần phải tra trong các Bảng trong Lịch vạn niên.
– Chi của Giờ: Giờ đầu của ngày lấy là giờ Tý (23- 1 giờ), tiếp theo là giờ Sừu (J~J giờ), Dần (3-5giờ)… Đến giờ Hợi (21-23 giờ) là hết 1 vòng ngày dêm v*rtrờ lại vòng tuần hoàn cho ngày sau. Theo kỷ nguyên Can Chi thì giờ đầu tiên là giờ Giáp Tý của ngày Giáp Tý của tháng Giáp Tý của năm Giáp Tý đầu tiên.

Âm dương, ngũ hành, can chi – P1

1. thuyết âm dương
– Âm dương là một khái niệm chỉ sự thống nhất của 2 mặt đối lập, không chỉ một cái gì cụ thể. Âm dương có thể là: Trời đất, dài ngắn, cao thấp, lớn bé, dày mỏng, ngắn dài, nóng lạnh, trước sau, trên dưới, phải trái, lưng bụng, mặt trời mặt trăng, sáng tối, nhanh chậm, sâu nông, phúc họa, hung cát, ngày đêm, thiện ác, tốt xấu…
– Âm dương là hai mặt đối lập, hai yếu tố tương phản, nhưng luôn dựa vào nhau, chuyển hoá lẫn nhau, cực âm tất dương, cực dương tất âm, làm cơ sở cho nhau tồn tại và phát triển. Lão Tử viết rằng: “Thảy là tương đối, nghĩa là bao giờ cũng có phần đối đãi của cái tốt và xấu, thiện và ác, thị và phi, dài và ngắn, cao và thấp… Thiên hạ đều biết tốt là tốt thì đã có xấu rồi; đều biết lành là lành thì đã có cái chẳng lành rồi” [16]. Dịch hoc quan niệm hai mặt đối lập này là thống nhất. Đó cũng là tính duy vật của Dịch học.
– Trong một ngôi nhà có không gian âm và không gian dương. Một ngôi nhà không thể chỉ có không gian âm hoặc chỉ có không gian dương. Cân bằng âm dương khí trong nhà là rất quan trọng. (Xem mục 2.2.2 để biết thêm về Âm Dương khí trong nhà).
2. thuyết ngũ hành
2.1) Bản chất thuyết Ngũ hành
Thuyết Ngũ hành quan niệm thế giới được tạo nên bởi 5 loại vật chất cơ bản. Đó là: Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ.
– Kim: biểu thị các dạng kim loại, có tính cứng, thanh tĩnh.
– Mộc: biểu thị các loại hình cây cối, có tính sinh sôi, vươn lên.
– Thuỷ: là nước, hơi lạnh, có tính hàn lạnh, hướng xuống.
– Hoả: Là lửa, khí nóng, có tính nhiệt, hướng lên. (Lửa là một dạng nãng lượng hơn là dạng vật chất, vì ta chỉ có thể nhìn thấy và cảm nhận được nó, chứ không bốc được nó).
– Thổ: Là đất, đá, có tính tàng trữ, trưởng thành, hoá dục.
Sự vận động, tác dụng lẫn nhau của 5 loại vật chất cơ bản này đã tạo nên sự tiến hoá phát triển của vạn vật trên thế gian này.
2.2) Ngũ hành sinh khấc
– Thuyết Ngũ hành cho rằng, vạn vật tồn tại và phát triển trong mối liên hệ sinh khắc của Ngũ hành. Nó là nguồn gốc của sự biến hoá của vũ trụ. Tương sinh nghĩa là trợ giúp, ủng hộ, bồi bổ nhau. Tương khắc là ngăn cản, khống chế, làm hại nhau.
Ngũ hành tương sính gồm có: Kim sinh Thuỷ, Thuỷ sinh Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim.
Ngũ hành tương khắc gồm có: Kim khắc Mộc (dao kiếm có thể chặt được cây), Mộc khắc Thổ (cây có thể làm xác xơ đất), Thổ khắc Thuỷ (đất có thể ngăn được nước), Thuỷ khấc Hoả (nước có thể dập tắt lửa), Hoả khắc Kim (lửa có thế nung chảy kim loại).
Sinh khắc là 2 mặt không thể tách rời của sự vật. Nó duy trì và thúc đẩy vạn vật không ngừng vận động và phát triển. Mối quan hệ sinh khắc của sự vật được thể hiện trên sơ đồ sau đây (thể hiện thế này để người đọc dễ nhớ, đúng ra hành Thổ phải được đặt vào trung tâm):

Âm dương, ngũ hành, can chi - P1 1

– Sinh khắc của Ngũ hành cũng có giới hận, nếu quá thì sẽ mất ý nghĩa, cụ thể là:
Kim sinh Thuỷ, Thuỷ quá nhiều thì Kim chìm.
Kim khắc Mộc, Mộc quá cứng thì Kim tù.
Mộc sinh Hoả, Hoả quá mạnh thì Mộc tiêu.
Mộc khắc Thổ, Thổ quá cứng thì Mộc gãy.
Thuỷ sinh Mộc, Mộc quá nhiều thì Thuỷ hưu.
Thuỷ khắc Hoả, Hoả quá mạnh thì Thuỷ khô.
Hoả sinh Thổ, Thổ quá lớn thì Hoả diệt.
Hoả khắc Kim, Kim quá nhiều thì Hoả tử.
Thổ sinh Kim, Kim quá nhiều thì Thổ hư.
Thổ khắc Thuỷ, Thuỷ quá mạnh thì Thổ trôi.
Cho nên khi xét quan hệ tương sinh tương khắc của Ngũ hành cũng phải xem điều kiện cụ thể, có thể sinh hay khắc được không. Thí dụ: Kim vàng trang sức thì không thể khấc Mộc gỗ thông được.
3. Thiên Can, địa Chi
1) Thiên Can (gọi tắt là Can)
– Có 10 Can (5 âm, 5 dương), đó là:
Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý
– Mười Can phối âm dương, ngũ hành, phương vị, các mùa được thể hiện ở Bảng 1.1:

Âm dương, ngũ hành, can chi - P1 1

– Hợp khắc của Can: Các Can hợp từng đôi một theo 2 chiều thuận nghịch, và khắc đôi một theo 1 chiều như ở Bảng 1.2. Theo Bảng 1.2 ta hiểu Giáp hợp Kỷ và ngược lại Kỷ hợp Giáp. Giáp xung Mậu, nhưng Mậu không xung Giáp mà xung Nhâm.

Âm dương, ngũ hành, can chi - P1 1

– Có 12 Chi, đó là:
Dần Mão Thìn TỊ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi Tý Sửu
– Mười hai Chi âm dương, phối ngũ hành, phương vị, bốn mùa như ở Bảng 1.3, Cụ thể là: Các Chi Dần Mão mang hành Mộc, thuộc phương Đông; Tị Ngọ mang hành Hoả, thuộc phương Nam; Thân Dậu mang hành Kim, thuộc phương Tây; Hợi Tý mang hành Thuỷ, thuộc phương Bắc; còn các Chi Thìn Mùi Tuất Sửu mang hành Thổ, thuộc các phương tương ứng là Đông Nam, Tây Nam, Tây Bắc và Đông Bắc. Các Chi Dần Mão Thìn thuộc mùa Xuân, Tị Ngọ Mùi thuộc mùa Hạ, v.v…

Âm dương, ngũ hành, can chi - P1 1

– Mười hai Chi tương phối thời gian giờ, tháng, phương vị với cơ thể con người được thể hiện ở Hình 1.1. Y học cổ truyền dùng tương phối địa chi với thời gian và cơ thể con người để phòng chống bệnh tật dễ phát sinh theo các tháng trong nãm. Đồng thời cũng dùng trong quá trình chữa bệnh. Thí dụ một người chữa bệnh dạ dày thì nên chữa vào tháng 3, uống thuốc hoặc luyện tập hàng ngày vào giờ Thìn (7- 9 giờ), ngồi luyện tập (thí dụ tập khí công dưỡng sinh) trông về hướng Đông Đông Nam thì sẽ có hiệu quả cao hơn. Phương pháp khí công dưỡng sinh cũng lấy học thuyết âm dương ngũ hành, Bát quái làm cơ sở [27 -ỉ- 30].

Âm dương, ngũ hành, can chi - P1 1