Trình tự tiến hành dự đoán theo quẻ Thể, quẻ Dụng.

Trình tự dự đoán theo các bước sau:
– Bước 1: Lập quẻ Chủ, quẻ Biến và quẻ Hỗ.
– Bước 2: Xem lời quẻ và lời hào của Chu Dịch để dự đoán dữ lành.
– Bước 3: Xác định quẻ Thể, quẻ Dụng và phân tích tương quan ngũ Hành
sinh khắc của các quẻ.
– Bước 4: Xác định ngày ứng nghiệm.
– Bước 5: Phân tích tổng hợp để đưa ra lòi dự đoán.
Sau đây là diễn giải các bước cụ thể:
a) Bước 1: Lập quẻ Chủ, quẻ Biến, quẻ Hỗ
Cách lập quẻ Chủ và quẻ Biến đã nêu cụ thể ở mục 8.2.1. Cách lập quẻ Hỗ nêu ở mục 8.4.2.
b) Bước 2: Xem lời quẻ và lời hào
Cần xem lời quẻ Chủ và quẻ Biến và lòi hào của hào động trong quẻ Chủ ghi trong sách Chu Dịch. Qua các lời quẻ và lời hào ta có thể định hướng tổng thể chiêm đoán dữ lành. Nếu lời cát thì sẽ đại cát. Nếu lời hung thì có thể sẽ đại hung. Nếu có điềm lành, lại có điềm dữ thì phải nghiên cứu kỹ lời quẻ, lời hào và quan hệ sinh khắc của tượng quẻ.
a) Bước 3: Xác định quẻ Thể, quẻ Dụng và phân tích tương quan ngũ Hành sinh khắc của các quẻ.
Đây là bước quan trọng nhất của quá trình dự đoán. Đầu tiên phải xác định đúng quẻ Thể và quẻ Dụng trong trùng quái Chủ theo nguyên tắc: Quẻ có hào động là quẻ Dụng, không có hào động là quẻ Thể. Đối với trùng quái không có hào động hoặc cả qué trên và quẻ dưới đểu có hào động thì lấy quẻ có hào Thế làm quẻ Thể, Quẻ có hào úng làm quẻ Dụng.
Tiếp theo cần phân tích kỹ quan hệ ngũ Hành tương sinh tương khắc của quẻ Dụng, quẻ Chủ, quẻ Hỗ đối với quẻ Thể. Tính tốt xấu trong quan hệ Dụng Thể .Khi xem gia trạch thì lấy quẻ Dụng là nhà, quẻ Thể là người (chủ nhà) đê xem xét. Đê đánh giá mức độ sinh khắc giữa các quẻ cần quan tàm đến tính suy vượng khí nêu trong Bảng Quẻ vượng thì có thể sinh khắc quẻ suy. Ngược lại quẻ suy không thể sinh khắc quẻ vượng, hoặc có sinh khắc thì mức độ cũng rất hạn chế, chỉ là kỵ huý mà thôi. Lại còn phải xem sinh khắc này là thực hay giả. Điều quan trọng là phải xem có quẻ khắc Thê không. Nếu không có khắc Thể thì chiêm đoán chắc là tốt đẹp. Còn nếu có khắc Thể thì phải xem có cứu hay không. Nếu có khắc Thể mà không có cứu thì chắc chắn là kết quả chiêm đoán sẽ xấu. Thí dụ: xem người bệnh mà Càn là quẻ Thể thì phải xem trong quẻ có Ly và có Khôn hay không. Nếu có Ly Hoả mà không có Khôn Thổ đê sinh cho Kim Càn thì chỉ có Hoả khắc Kim, người bệnh chắc chắn là chết vào ngày Tị, Ngọ (Hoả). Nếu trong quẻ không có quẻ sinh Thể, cũng không có quẻ khắc Thê’ thì cãn cứ vào quẻ gốc mà suy luận. Khi có hào động thì xem lời hào động trong quẻ Chủ để đoán. Khi không cố hào động thì lấy tượng quẻ để đoán.
Có 3 loại hình tương quan ngũ Hành của Thể Dụng. Đó là:
Tương sinh: Bao gồm Sinh nhập, là Dụng sinh Thể (tức Thể được bồi bổ thêm- rất tốt). Và Sinh xuất, tức Thể sinh Dụng (Thể bị tiết khí)- xấu hoặc không tốt lắm.
Tương khắc\ Gồm có Khắc nhập, là Dụng khắc Thể- Thể bị kìm hãm- Rất xấu. Và Khắc xuất, Thể khắc Dụng- Thể bị tổn sức- không tốt nhưng không xấu lắm. Trong trường hợp này thì Thể không có sự hỗ trợ.
Tỷ hoà: Tức là Thể Dụng cùng một Hành, nghĩa là Thể được bồi bổ thêm- rất tốt.
Khi phân tích tương quan sinh khắc giữa các quẻ, có thể tham khảo kinh nghiệm tiên đoán về thể sinh khắc của các quẻ nêu trong Bảng 8.9

 Trình tự tiến hành dự đoán theo quẻ Thể, quẻ Dụng. 1

 Trình tự tiến hành dự đoán theo quẻ Thể, quẻ Dụng. 1

Xem thêm: Ban nha Ha Noi co hinh anh

Mục đích của dự đoán nhà

Dùng quẻ dịch đế dự đoán những vấn đề sau đây của nhà:
– Nhà mới làm xong, xem ở vể sau sẽ tốt xấu thế nào;
– Nhà sửa xong, xem ở về sau sẽ tốt xấu thế nào;
– Nhà đang ở liệu có vấn đề gì không;
– Xem dự kiến mua hoặc thuê một ngôi nhà hay một căn hộ đã chọn thì ớ có tốt không;
– Xem định mua một miếng đất nào đó để xây nhà ở thì có tốt không;
– Xem ngày đã chọn để khởi công xây dựng nhà, hay ngày nhập trạch vể nhà mới, hay ngày ký hợp đồng mua hay thuê nhà thì có tốt không.
– v.v…
Để có được lời dự đoán cần phân tích số của quẻ, ngũ hành sinh khắc giữa các quẻ và các hào, và phải có lập luận nữa (tức là phải có lý nữa).
 Phân tích mức tốt xấu của hướng nhà so với mệnh chủ nhà
Có 8 Du niên, trong đó có 4 tốt (Sinh khí, Thiên y, Diên niên, Phục vị), và 4 xấu (Hại hoạ, Lục sát, Ngũ quỷ, Tuyệt mệnh). Hướng nhà cần phối vói mệnh chủ sao cho được một trong 4 du niên tốt. Muốn vậy thì chú nhà thuộc Đông tứ mệnh phải có hướng nhà nằm ở Đông tứ trạch, thuộc Tây tứ mệnh thì hướng nhà phải nằm ở Tây tứ trạch. Dựa trên mức độ đáp ứng yêu cầu này, ta có thể biết một cách tống quát về tính tốt xấu khi sống trong ngôi nhà. Tuy nhiên, đây cũng chỉ mới là những dự đoán mang tính tổng quát nhất, dựa trên những nguyên tắc tương hợp giữa hướng nhà với mệnh chủ, chưa thể đi sâu phân tích chi tiết được. Muốn phân tích sâu về ngôi nhà thì cần phải lập trùng quái và phân tích kỹ từng hào. Một khi biết được tống quát tính tốt xấu của nhà, trên cơ sở Hướng nhà phối với mệnh chủ nhà, cũng giúp ta điều chỉnh thiết kế cho thích hợp hơn. Khi không đáp ứng được tính tương hợp giữa hướng nhà và mệnh quái chủ thì có thể phải dùng phép hoá giải ngay từ khâu thiết kế công trình.
1. Lập trùng quái theo hướng nhà và mệnh quái chủ nhà
Nguyên tắc lập trùng quái ở đây là: Lấy hướng nhà thuộc quái nào trong Hậu thiên bát quái để làm quái Hạ. Còn mệnh quái chủ nhà (xem mục 1.8) làm quái Thượng. (Khi dự đoán về nhà thì lấy quái Hạ là nhà, quái Thượng là người, hào 2 là nhà, hào 5 là người). Như vậy ta có tất cả 8 hướng nhà X 8 mệnh quái chủ = 64 trùng quái. Quái Hướng nhà luôn bao gồm cả 3 cung nhỏ mà nó quản. Thí dụ: Quái Càn gồm 3 cung Tuất Càn Hợi; quái Tốn gồm 3 cung Thìn Tốn TỊ. Các quái khác cũng vậy. Khi đặt cửa chính thì cố gắng đặt vào cung nhỏ tốt (cung có chấm đen trong bản đồ trạch quẻ ở Phụ lục 3).
2. Phản tích mức tốt xấu
Mức tốt xấu của nhà trong mỗi trùng quái được nêu trong Bảng PL 8 ở Phụ lục 8. Đây là những tổng kết của các nhà Phong thuỷ, đã được nhiều tài liệu về Phong thuỷ nêu lên . Cũng không thấy các tài liệu phân tích cơ sở phương pháp luận của những tính tốt xấu này. Những phân tích tính tốt xấu này cũng chỉ mang tính điển hình, không thể chi tiết cho từng ngôi nhà, vì tính tốt xấu của ngôi nhà không chỉ ở Hướng nhà (hướng cửa chính), mà còn ở hướng cổng, hướng bàn thờ, hướng lò bếp, hướng cửa phụ, trường khí quanh nhà v.v…

Dự đoán theo tượng quẻ (quẻ Thể và quẻ Dụng)
/. Thế nào là quẻ Thể, quẻ Dụng
Trong một trùng quái gồm 6 hào, ghép lại từ 2 quẻ đơn là quẻ Thượng (quẻ Ngoại) và quẻ Hạ (quẻ Nội). Quẻ đơn nào có chứa hào động gọi là Quẻ Dụng. Quẻ đơn không có hào động gọi là Quẻ Thể. Khi cả quẻ Thượng và Hạ đểu có hào động, hoặc đều không có hào động thì lấy quẻ có hào Thế làm quẻ Thể, quẻ có hào úng làm quẻ Dụng.
– Quẻ Thể là mình, quẻ Dụng là người hoặc sự việc.
– Khi xem gia trạch thì lấy quẻ Dụng là nhà, quẻ Thể là người (chủ nhà) đê dự đoán.
– Trong chiêm đoán lấy quẻ Thế làm quẻ chủ, các quẻ khác (quẻ Dụng, quẻ Hỗ, quẻ Biến) làm quẻ ứng.
2. Tốt xấu của Thể Dụng
Quẻ Thể phải vượng mới tốt. Khí của quẻ Thể suy đều là không cát lợi. Quẻ khắc Thể phải suy mới tốt. Quẻ Dụng, quẻ Hỗ, quẻ Biến thừa vượng đều là cát lợi, nhưng không được khắc quẻ Thể, nếu khắc thì nguy hại. Nếu trong các trùng quái có quẻ sinh Thể thì dù quẻ Thể có suy yếu cũng không nguy hại lắm. Ngược lại, khi quẻ trong quẻ ngoài không có quẻ sinh Thể thì dù quẻ Thể có vượng cũng không cát lợi. Tính vượng suy của mỗi quẻ được căn cứ vào mùa và tháng xem quẻ (xem mục 8.3.2 và bảng 8.7).
Quan hệ sinh khắc Thể Dụng như sau:
+ Thể khắc Dụng thì việc lanh lợi.
+ Dụng khắc Thể thì việc bất lợi + Dụng sinh Thể thì việc thuận lợi.
+ Thể sinh Dụng thì việc chưa chắc đã lanh lợi.
– Dụng Thể tỷ hoà (đồng Hành với nhau) thì việc thường là thuận lợi.
Không có quẻ khắc Thể thì việc chắc sẽ thành công.
Khi xem nhà (ở có tốt không):
Coi Thể là chủ, Dụng là nhà
– Thể khắc Dụng thì nhà đó ở tốt, may mắn.
– Thể sinh Dụng thì tài sản kém sút dần (bị tiết khí).
– Dụng khắc Thể thì nhà không dễ ở, nhiều hiểm nguy.
– Dụng sinh Thể thì nhà hưng vượng dần.
– Thể Dụng ngang hoà thì bình thường yên ổn.
3. Quẻ Chủ, quẻ Biến, quẻ Hỗ
Quẻ Chủ là quẻ lập lên ban đầu, gọi là quẻ gốc, biểu thị công việc ở giai đoạn đầu.
Quẻ Biến là do quẻ Chủ có hào động biến mà thành, biểu thị công việc ở giai đoạn cuối.
Quẻ Hỗ là quẻ lập từ việc chọn lựa các hào trong quẻ chủ theo một nguyên tắc quy định, biểu thị thời khắc của công việc (giai đoạn giữa).
Thí dụ: Khi xem việc hỷ mà có quẻ sinh Thể thì chắc chắn sẽ thành công. Không có quẻ khắc Thể cũng có thể thành công được. Nếu được quẻ sinh Thể là quẻ Dụng thì việc hỷ thành công ngay. Nếu quẻ sinh Thể là quẻ Hỗ thì việc thành công sẽ chầm chậm. Còn nếu quẻ sinh Thể là quẻ Biến thì việc thành công sẽ hơi muộn. Còn nếu gặp Dụng khắc Thể thì chắc là khó thành công. Nếu quẻ Biến khắc quẻ Thể thì đám hỷ cuối cùng cũng không thành công.
– Trong chiêm đoán lấy quẻ Thể làm quẻ chủ, quẻ Dụng, quẻ Biến, quẻ Hỗ làm quẻ ứng. Quẻ Dụng quan trọng nhất, sau đó là quẻ Hỗ, cuối cùng là quẻ Biến. Quẻ Hỗ chia ra quẻ Hỗ của quẻ Thể và quẻ Hỗ của quẻ Dụng. Nếu quẻ Thể ở dưới thì quẻ Hỗ ở dưới là quẻ Hỗ của quẻ Thể. Khi đó quẻ Hỗ ở trên là của quẻ Dụng. Quẻ Hỗ của quẻ Thể là rất quan trọng, quẻ Hỗ của quẻ Dụng chỉ là thứ yếu của quẻ Hỗ của quẻ Thể mà thôi. Quẻ Biến cũng vậy.
Cách lập quẻ Hỗ như sau:
Lấy hào 2, 3, 4 của quẻ Chủ lập thành quẻ Hạ (Hạ quái).
Lấy hào 3, 4, 5 của quẻ Chủ lập thành quẻ Thượng (Thượng quái).

 Mục đích của dự đoán nhà 1

Xem thêm: Bán nhà Hà Nội có sổ đỏ

Những yếu tố dùng để phân tích quẻ dịch

Những yếu tố dùng để phân tích quẻ dịch :

Sinh Vượng Mộ Tuyệt
Vòng trường sinh của vạn vật có 12 bước sau đây:
1. Trường sinh (S): Vạn vật sinh ra
2. Mộc dục: Mới sinh, còn yếu ớt.
3. Quan đới: Bắt đầu phát triển.
4. Lâm quan: Giai đoạn trưởng thành.
5. Đế vượng (V): Đã phát triển đến cực thịnh.
6. Suy: Bắt đầu suy yếu.
7. Bệnh: Lâm bệnh.
8. Tử: Chết.
9. Mộ (M): Vào mộ. (Con đi thi mà vào Mộ thì không làm được bài).
10. Tuyệt (T): Đã tuyệt diệt.
11. Thai: Thai nghén chu kỳ vòng trường sinh mới. (Xem có con mà trong quẻ có hào Thai thì mới hy vọng có con).
12. Dưỡng: Thai nghén cần được nuôi dưỡng.
Trong 12 bước này có 4 bước quan trọng là Sinh, Vượng, Mộ, Tuyệt – thường dùng trong dự đoán để xem xét các hào là Trường sinh, Đế vượng hay lâm Mộ lâm Tuyệt. Hào Dụng thần, Thế được Sinh hay Vượng thì tốt, lâm Mộ hay Tuyệt thì xấu. 4 bước quan trọng này có liên quan với Tam hợp cục: Kim cục, Mộc cục, Thuỷ cục, Hoả cục. Cụ thể như ở Bảng 8.5:

Những yếu tố dùng để phân tích quẻ dịch  1

 Vượng Tướng Hưu Tù Tử
Vượng Tướng Hưu Tù Tử là những khái niệm đặt ra khi luận về quan hệ sinh khắc theo 4 mùa. Cụ thể như ở Bảng 8.6.
Ta nói:
– Mùa Xuân mang hành Mộc nên Mộc Vượng.
– Mộc Vượng sinh Hoả nên Hoả Tướng.
– Thuỷ sinh Mộc Vượng nên hết sức – Thuỷ Hưu.
– Kim khắc Mộc Vượng nên Kim Tù (vì không khắc được).
– Mộc Vượng khắc Thổ nên Thổ chết – Tử.

Những yếu tố dùng để phân tích quẻ dịch  1

Ngày không vong
1. Ta biết tên mỗi ngày được gọi bằng một tên Can Chi. Trong 60 hoa giáp người ta chia ra thành 6 tuần Giáp, mỗi tuần 10 ngày tương ứng với 10 Can: Giáp Ât Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý. Nhưng tên ngày theo địa Chi lại có 12 Chi: Tý Sửu Dấn Mão Thìn Tị Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi, so với Can thì mỗi tuần Giáp thừa ra 2 Chi. Hai Chi này gọi là Chi không vong. Vậy cứ mỗi tuần Giáp 10 ngày thì có 2 ngày Không vong, là 2 ngày đứng trước ngày đầu của tuần Giáp. Ngày Không vong tính theo tuần Giáp cụ thể như sau:
– Tuần Giáp Tý có 2 ngày Không vong là: Tuất, Hợi.

Những yếu tố dùng để phân tích quẻ dịch  1

Xem thêm: Bán nhà nhanh chóng. Dễ dàng. Đăng tin của bạn tại Bán nhà Hải Phòng

Lập quẻ Dịch theo tượng quẻ

Có 8 quẻ là: Càn Đoài Ly Chấn Tốn Khảm Cấn Khôn. Biểu tượng của 8 quẻ này được thể hiện trong Bảng 8.10. Tám quẻ này cùng với số tương ứng của nó được dùng để lập một trùng quái.
a) Lập trùng quái Chủ (Gốc)
Trùng quái Chủ được lập bằng cách lấy trực tiếp các tượng quẻ đơn đặt trên dưới nhau để được một trùng quái (quẻ kép). Có nhiều cách khác nhau để chọn tượng quẻ, thí dụ như:
Dùng Hướng nhà và Sơn nhà lập thành một Trùng quái. (Đặt Hướng trên, Sơn dưới). Thí dụ: Nhà Sơn Tý Hướng Ngọ. Ta biết Tý nằm ở phương Bắc trong Hậu thiên bát quái do quái Khảm quản, còn Ngọ ở phương Nam do quái Ly quản, Vậy ta được quẻ Hoả Thuỷ Vị tế (Ly trên Khảm dưới):
Dùng Hướng nhà phối với Mệnh tinh của chủ nhà thành một trùng quái, quái Thượng là mệnh chủ, quái Hạ là hướng nhà. Thí dụ chủ nhà mệnh Chấn, nhà hướng Đông Nam (Tốn) ta được quẻ Lôi Phong Hằng (Chấn trên Tốn dưới):
Dùng tượng người hay con vật phối với hướng đi tới lập thành một trùng quái, quái Thượng là người hay con vật, quái Hạ là hướng đi tới. Thí dụ: có một thanh niên đi từ hướng Ly tới đê hỏi xem quẻ.

Dùng hình thái, màu sắc, âm thanh, vị trí, tính chất của sự vật, số nét chữ của họ hoặc tên người xin quẻ v.v… để xác định quẻ dịch. Thí dụ: màu đen thuộc Thuỷ là quẻ Khảm, màu đỏ Hoả thuộc Ly; sự vật lúc xem quẻ thấy tươi sáng là thuộc quẻ Ly, vui vẻ thuộc quẻ Đoài (xem Bảng 8.9). Tuỳ theo kinh nghiệm và sự sáng tạo của người lập quẻ mà vận dụng nhiều cách khác nhau để lập trùng quái Chủ.
Chú thích: Khi lập trùng quái Chủ có thể căn cứ vào số đã có để xác định quẻ (gọi là phương pháp Tiên thiên chiêm quái), hoặc căn cứ vào quẻ đã có để xác định số (gọi là phương pháp Hậu thiên chiêm đoán). Điều này tuỳ thuộc vào điều kiện chiêm đoán.
b) Lập trùng quái Biến
Để lập trùng quái Biến cần phải tìm hào biến trong quẻ Chủ. Trong trường hợp này ta lấy tổng gồm số của quẻ trên cộng với sô’ của quẻ dưới (xem Bảng 8.1) rồi cộng thêm số của giờ lập quẻ, hay giờ người đến hỏi rồi chia cho 6. Số dư chính là hào động biến. Cho hào này biến Âm sang Dương hay Dương sang Âm ta sẽ có được trùng quái Biến.
Thí dụ: quẻ Hoả Thuỷ Vị tế ở trên được lập vào giờ Tị là số 6, số của quẻ Ly là 3, số của quẻ Khảm là 6. Ta có: 3 + 6 + 6 = 15, chia 6 dư 3, vậy hào 3 Âm biến thành Dương. Ta được quẻ biến là Hoả Phong Đỉnh:

Lập quẻ Dịch theo tượng quẻ 1

Bát quái phối Can Chi
Sau khi lập được trùng quái, ta cần phối Can Chi cho tùng hào. Có thể phối theo Thiên Can hay Địa Chi.
1) Phối Thiên can
Phối Thiên can theo bát quái Tiên thiên được áp dụng để lập trùng quái theo Can. Cụ thể nguyên tắc phối như sau:
Quái Càn: Thượng quái phối với Can Nhâm
Hạ quái Giáp
Quái Khôn: Thượng quái phối với Quý
Hạ quái Ất
Quái Đoài: Phối với Đinh
Ly quái: Kỷ
Chấn quái: Canh
Tốn quái: Tân
Khảm quái: Mậu
Cấn quái: Bính

Lập quẻ Dịch theo tượng quẻ 1

Phối Địa Chi
Địa Chi được phối theo nguyên tắc sau:
1. Quái Dương (+) phối Chi Dương (+), bỏ Chi Âm (-)
Quái Âm (-) phối Chi Âm (-), bỏ Chi Dương (+).
2. Phối theo thứ tự từ hào 1 đến hào 6.
Phối Chi (+) bắt đầu từ Tý (thuận chiều KĐH)
Phối Chi (-) bắt đầu từ Sửu (ngược chiều KĐH).
Nguyên tắc phối Địa chi được thể hiện trong Bảng 8.2 và Hình 8.1 dưới đây.
Chú ý: Vì Địa Chi được phối liên tục từ hào 1 đến hào 6, nên việc phối cho các hào 4,5,6 ở quái Thượng cần được tính thứ tự từ hào 1 rồi bỏ qua 3 hào đầu, bắt đầu phối từ hào 4 đến hào 6.

Lập quẻ Dịch theo tượng quẻ 1

 

Xem thêm: Bán nhà nhanh chóng. Dễ dàng. Đăng tin của bạn tại Bán nhà Hải Phòng

Trạch quẻ là gì?

1. trạch quẻ là gì?
Trạch nghĩa là lựa chọn, ở đây là lựa chọn đất tốt để xây dựng nhà. Trạch quẻ nói nôm na là Bản đồ sơn hướng dùng để chọn đất làm nhà phù hợp với Mệnh quái của chủ nhà. Đây là một sáng tạo quan trọng của người xưa ở phương Đông, dùng cho xây dựng nhà đạt đến yêu cầu Thiên Địa Nhân hợp nhất, không phải là sản phẩm mang tính duy tâm như nhiều người quan niệm. Chúng ta cần nghiên cứu vấn đề này một cách đầy đủ và khách quan hơn.
Trong mục 1.8 đã giới thiệu cách tính Mệnh tinh và Mệnh quái của mỗi người. Theo đó có 8 Mệnh qụái là Càn, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn. Các Mệnh quái này được phân ra:
Đông tứ mệnh gồm có 4 Quái: Chấn, Tốn, Ly, Khảm. Tương ứng với các hướng
Đông, Đông Nam, Nam, Bắc.
Tây tứ mệnh gồm 4 Quái: Càn, Đoài, Khôn, Cấn. Tương ứng với các hướng:
Tây Bắc, Tây, Tây Nam, Đông Bắc.
Mỗi người trong chúng ta đều mang cho mình một Mệnh quái. Để tiện cho việc thiết kế nhà, người xưa đã thiết lập một bản đồ trạch nhà gọi là Trạch quẻ. Trạch quẻ cũng có 8 và phân ra 2 nhóm theo mối quan hệ tương sinh như sau:
Nhóm thứ nhất- Thổ sinh Kim- gồm các Mệnh quái Càn Đoài ( mang hành Kim) và Cấn Khôn (mang hành Thổ). Vì trong số này có 3 quẻ Càn Đoài Khôn nằm ở phía Tây trong bản đồ Hậu thiên bát quái, nên nhóm này được gọi là Tây tứ trạch.
Nhóm thứ 2- Thuỷ sinh Mộc, Mộc sinh Hoả – gồm các Mệnh quái Khảm (mang hành Thuỷ), Chấn (Mộc), Tốn (Mộc), Ly (Hoả). Nhóm này được gọi là Đông tứ trạch.
Vì 2 nhóm này mang Hành khắc nhau, nên ứng dụng vào việc làm nhà thì người thuộc Đông tứ mệnh nên dùng Trạch quẻ thuộc Đông tứ trạch. Ngược lại, người thuộc Tây tứ mệnh thì dùng Trạch quẻ thuộc Tây tứ trạch. Nếu dùng lẫn nhóm nọ sang nhóm kia thì dễ bị xung khắc.
Như vậy, khi dùng trạch quẻ để xây dựng nhà thì cần đảm bảo nguyên tắc là: Người có Mệnh quái thuộc Đông tứ mệnh thì dùng Trạch quẻ thuộc Đông tứ trạch; Người có mệnh quái là Tây tứ mệnh thì dùng Trạch quẻ thuộc Tây tứ trạch.
2. Bản đồ Trạch quẻ
Ta lấy thí dụ một bản đồ Trạch quẻ Chấn, gọi là Chấn trạch để phân tích (Hình 2.12). Cấu tạo Chấn trạch gồm có các vòng sau đây:
Vòng trong cùng ghi tượng hình và tên quẻ Chấn, mặt quay về phương Phục vị.
Cửa chính của nhà thường đặt vào phương này;
Vòng trong thứ 2 là 8 hướng;
Vòng thứ 3 là 8 quẻ trong Hậu thiên bát quái. Tên các quẻ này là không thay đổi ở cả 8 Trạch quẻ. ứng với mỗi quẻ là một Du niên (xem mục 1.7). Các Du niên ở các Trạch quẻ thì có thay đổi khác nhau thể hiện sự biến đổi của Trạch quẻ so với các quẻ khác trong Hậu thiên bát quái.

Trạch quẻ là gì? 1

Vòng thứ 4 ghi vòng sao Phúc đức. Trong đó Chấn trạch có sao Phúc đức tại Tị. Trong vòng sao Phúc đức những sao nào có dấu chấm đặt ở dưới là sao tốt;
Vòng thứ 5 ghi tên của 24 son hướng;
Vòng thứ 6 ghi khắc chia độ của vòng tròn 360°, bắt đầu 0° tại Khảm (Phưcng Bắc), 180° ở Ly (phưong Nam). Điều này là cô’ định cho tất cả 8 Trạch quẻ.
Ngoài cùng có ghi mức cát hung của mỗi Du niên. Ta thấy trong các cung thuộc Du niên tốt (cát) vẫn có cả những sao xấu. Ngược lại ở các Du niên xấu cũng vẫn có sao tốt. Đó là đặc điểm của Dịch học: trong Âm có Dương, trong Dương có Âm.
Các bản đồ của các Trạch quẻ khác cũng có cấu tạo theo nguyên tắc như trên.
Với cấu tạo một trạch quẻ như thế này, người dùng sẽ rất tiện lợi, chỉ việc xem mình thuộc Mệnh quái nào thì đem Trạch quẻ đó ra mà dùng. Thí dụ: bạn thuộc Mệnh quái Tốn thì chọn Tốn trạch ra dùng. Tác giả đã có đủ 8 Trạch quẻ in trong Phụ lục 3 để bạn đọc tiện sử dụng. Cách dùng được hướng dẫn trong mục 4.1.
3. Vòng 24 sơn hướng
Trong Bản đồ Trạch quẻ ở Hình 2.12 có vòng thứ 5 chứa đựng 24 Sơn Hướng, mỗi Sơn Hướng quản 15° của vòng tròn 360°. Các Sơn Hướng này gồm có 12 Chi, 8 Can và 4 Quẻ của Bát quái Hậu thiên. Như vậy mỗi cung của Bát quái quản 3 Sơn Hướng, tức 45°. Nguyên tắc bố trí tên các Sơn Hướng này như sau: 12 Chi được xếp theo đường thuận chiều kim đồng hồ, căn cứ theo 12 tiết của Tháng, bắt đầu từ Dần (Tháng Giêng). Các Chi này được xếp cách đoạn cứ 1 chi
Dương lại đến 1 Chi Âm, tạo thành 6 cặp xung nhau sau đây đúng như sơ đồ trên ‘ Hình 1.3:
Tý Ngọ xung nhau, Mão Dậu xung nhau Thìn Tuất xung nhau, Sửu Mùi xung nhau Dần Thân xung nhau, Tị Hợi xung nhau. Trong đó Tý Ngọ Mão Dậu đóng tương ứng ở trục Tứ chính là Bắc Nam Đông Tày (Hình 2.13.a).
8 Can được xếp cân đối 2 bên trục Tứ chính, Can Dương bên trái, Can Âm bên phải. Cụ thế: Giáp (+) ở bên trái Mão, At (-) bên phải Mão; Can Bính (+) bên trái
Ngọ, Đinh (-) bên phải Ngọ; Can Canh (+) bên trái Dậu, Tân (-) bên phải Dậu; Can Nhâm (+) bên trái Tý, Quý (-) bên phải Tý (Hình 2.13.b). Còn 4 quẻ được bố trí vào 4 Phương thuộc trục Tứ duy là Tốn ở Đông Nam, Khôn ở Tây Nam, Càn ở Đông Bắc và Cấn ở Đông Bắc (Hình 2.13.b).

Trạch quẻ là gì? 1