Tiên thiên bát quái và hậu thiên bát quái

1. tiên thiên bát quái
Sơ đồ Tiên thiên bát quái do vua Phục Hy thiết lập, tượng trưng cho Trời (Hình 1.9). Sơ đồ này có những đặc điểm sau đây:
Tám quẻ Càn Đoài Ly Chấn Tốn Khảm Cấn Khôn được xếp thành vòng tròn và đánh số thứ tự 8 số theo hệ nhị phân (hệ Âm Dương) đọc ngược bắt đầu từ Càn 7, Đoài 6, Ly 5, Chấn 4, rồi tiếp Tốn 3, Khảm 2, Cấn 1 đến Khôn 0. Thứ tự đọc từ 7 đến 4 theo ngược chiều kim đồng hồ; từ 3 đến 0 theo thuận chiều kim đổng hồ. Như vậy sơ đồ đọc Tiên thiên bát quái tạo thành đường đi hình chữ s. Người xưa quan niệm đọc thuận số tiến dần là để biết quá khứ và hiện tại, còn đọc ngược số lùi dần là để biết tương lai. Dịch học là dự báo tương lai nên phải đọc ngược, số lùi dần.

Tiên thiên bát quái và hậu thiên bát quái 1

Quẻ Càn nằm ở phương Nam, Khôn ở phương Bắc, Ly ở phương Đông, Khảm ở phương Tây. Các quẻ khác nằm ở các phương tương ứng với các phương đã xác định trên vòng tròn. Xếp thứ tự đọc ngược như trên cho ta tổng các số trên một trục phương hướng đều bằng nhau và bằng 7. Cụ thể là:
Trục Bắc Nam: Càn 7 + Khôn 0 = 7
Trục Đông Tây: Ly 5 + Khảm 2 = 7
Trục Đông Bắc- Tây Nam: Chấn 4 + Tốn 3 = 7 Trục Đông Nam Tây Bắc: Đoài 6 + Cấn 1 = 7
Các quẻ Âm Dương xen kẽ nhau theo trình tự đọc từ 7 đến 0. Cứ một Dương lại một Âm. Các quẻ đối xứng nhau qua tâm vòng tròn có Âm Dương đối nhau. Hai quẻ trong một 1/4 cung tròn cũng có Âm Dương đối nhau. Như vậy Tiên thiên bdt quái nói lên ý nghĩa Âm Dương liên hoàn, trong Âm có Dương, trong Dương có Âm, phản ánh mối quan hệ tương phản tương thành mang tính quy luật của các hiện tượng tự nhiên và xã hội. Nhìn khía cạnh tượng trưng cho con người thì cha với mẹ (Càn + Khôn) thành 1 đôi; Trưởng Nam với trưởng nữ (Cấn + Đoài) thành một đôi; Trung nam với trung nữ (Ly + Khảm) thành 1 đôi; Thiếu nam với thiếu nữ (Chấn + Tốn) thành 1 đôi.
2. Hậu thiên bát quái
Nhiều tài liệu cho rằng sơ đồ Hậu thiên bát quái do vua Văn vương lập nên, tượng trưng cho trái đất, với sự sắp xếp lại trật tự các quẻ Tiên thiên (Hình 1.10). Hậu thiên bát quái có những đặc điểm sau đây:

Tiên thiên bát quái và hậu thiên bát quái 1

– So với Cửu tinh đồ cơ bản (sơ đồ Lạc thư) ta thấy vị trí các phương vị của mỗi quẻ cũng tương ứng với phương vị của mỗi sao trong Cửu tinh đồ. Khi phối chúng với nhau và phối với ngũ hành sinh khắc ta có sơ đồ ở Hình 1.11. Ở đây các số của Cửu tinh đồ (được đặt ở vòng trong cùng) có cùng phương vị tương ứng với các quẻ trong Hậu thiên bát quái. Số 1 (sao Nhất bạch Thuỷ) nằm ở phương Bắc, tương ứng với quẻ Khảm mang hành Thuỷ; Số 9 (sao Cửu tử Hoả) nầm ở phương Nam, tương ứng với quẻ Ly mang hành Hoả. Các số sao khác cũng vậy. Các sao số 1, 9, 3, 7 tương ứng với 4 quẻ Khảm, Ly, Chấn, Đoài chiếm giữ 4 phương chính là Bắc, Nam, Đông, Tây được gọi là trục Tứ Chính. Các sao số 2, 4, 6, 8 tương ứng với 4 quẻ Khôn,Tốn, Càn, Cấn nằm ở các phương tương ứng là Tây Nam, Đông Nam, Tây Bắc và Đông Bắc được gọi là Tứ Duy.
– Trong 8 cửa của Bát quái thì mỗi cửa chấn 3 phương tương ứng với lục thần (Hình 1.11). Thí dụ cửa Ly gồm có các phương Bính, Ngọ, Đinh thuộc Chu tước; Khảm gồm có các phương Quí Tý Nhâm thuộc Huyền vũ; cửa Càn gồm có Hợi Càn Tuất V V…

Tiên thiên bát quái và hậu thiên bát quái 1

– Trên sơ đồ Hình 1.11 còn cho thấy quy luật sinh khác giữa các Quẻ: Trons đó vòng tương sinh là: Mộc Chấn + Tốn sinh Hoả Ly; Hoả Ly sinh Thổ Khôn; Thổ Khôn sinh Kim Đoài + Càn; Kim Đoài + Càn sinh Khảm Thuỷ; Thuỷ Khảm sinh Mộc Chấn + Tốn. Còn quan hệ tương khắc thì từng cặp quẻ đối nhau qua tâm có Hành khắc nhau: Kham Thuỷ khắc Ly Hoả; Đoài Kim khắc Chấn Mộc; Càn Kim khắc Tốn Mộc. Riêng hai quái Cấn và Khôn thì có cùng hành Thổ, nhung Cấn là Âm Thổ, còn Khôn là Dương Thổ. Hình 1.11 cũng mô tả quy luật vận hành các Tiết khí trong năm tương ứng với mỗi quẻ: Bắt đầu từ Chấn là Xuân phân, đến Tốn là Lập Hạ, đến Ly là Hạ chí… và kết thúc ở Cấn là Lập Xuân. Sách cổ [7] ghi là:
(1) Đế xuất hồ Chấn: vạn vật bắt đầu từ Chấn, phương Đông, tượng tháng 2- mùa xuân:
(2) Tề hổ Tốn: Vạn vật vận hành đến Tốn thì đã đầy đủ, hưng vương, tượng tháng 3, 4:
(3) Tương kiến hồ Ly: Ly tượng trưng cho ban ngày, ánh sáng rực rỡ. mọi vật đang sinh trưởng, tượng tháng 5;
(4) Chí dịch hồ Khôn: Khôn là đất mẹ nuôi dưỡng vạn vật, thời kỳ vạn vật phát triển đầy đủ, tượng tháng 6,7;
(5) Thuyết ngôn hồ Đoài: Vạn vật tươi vui, hoa quả kết trái, tượng tháng 8;
(6) Chiến hồ Càn: Vạn vật mâu thuẫn, âm dương đấu tranh với nhau, trời đã xế bóng, tượng tháng 9, 10;
(7) Lao hổ Khảm: Đến Khảm mặt trời đã lặn, vạn vật mệt mỏi, nên nghỉ ngơi, tượng tháng 11;
(8) Thành ngôn hồ Cấn: Vũ trụ vận hành xong 1 chu kỳ, chuẩn bị sang chu kỳ mới, tượng của tháng 12.
Về mối quan hệ chuyển hoá từ Tiên thiên bát quái sang Hậu thiên bát quái thì nhiều tại liệu về Dịch học, kể cả tài liệu cổ của Trung Quốc, thừa nhận sự chuyến hoá này như là một tự nhiên có Trời thì phải có Đất, nhưng chưa giải mã được vấn đề. Một số tài liệu [4. 5,11] có dựa theo hệ nhị phân để giải thích việc này.
Tiên thiên và Hậu thiên bát quái là hai tài liệu rất quan trọng, được dùng trong việc xác định Mệnh niên của mỗi con người, xác định vị trí xây dựng nhà, thiết kế nhà và quy hoạch một khu nhà (xem ứng dụng ở Chương 3 và 4).
Trên cơ sở phối Hậu thiên bát quái với Cửu tinh, Ngũ Hành và Phương vị ta thiết lập dược một Thiên bàn đơn giản như ở Hình 1.12. Đây là cơ sở để lập nên các Trạch qué sau này để dùng trong thiết kế nhà. Trong Thiên bàn này: vòng trong cùng có sao Ngũ hoàng đóng ở tâm. Vòng thứ 2 là Hậu thiên bát quái. Vòng 3 là các số của Cửu tinh đồ cơ bản. Vòng 4 là Hành của các quẻ trong Hậu thiên bát quái. Vòng 5 là tên các sao (Mệnh tinh) tương ứng với các Quẻ của Hậu thiên bát quái. Ngoài cùng là Hướng chú vận của bát quái .

Tiên thiên bát quái và hậu thiên bát quái 1