Trạch quẻ là gì?

1. trạch quẻ là gì?
Trạch nghĩa là lựa chọn, ở đây là lựa chọn đất tốt để xây dựng nhà. Trạch quẻ nói nôm na là Bản đồ sơn hướng dùng để chọn đất làm nhà phù hợp với Mệnh quái của chủ nhà. Đây là một sáng tạo quan trọng của người xưa ở phương Đông, dùng cho xây dựng nhà đạt đến yêu cầu Thiên Địa Nhân hợp nhất, không phải là sản phẩm mang tính duy tâm như nhiều người quan niệm. Chúng ta cần nghiên cứu vấn đề này một cách đầy đủ và khách quan hơn.
Trong mục 1.8 đã giới thiệu cách tính Mệnh tinh và Mệnh quái của mỗi người. Theo đó có 8 Mệnh qụái là Càn, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn. Các Mệnh quái này được phân ra:
Đông tứ mệnh gồm có 4 Quái: Chấn, Tốn, Ly, Khảm. Tương ứng với các hướng
Đông, Đông Nam, Nam, Bắc.
Tây tứ mệnh gồm 4 Quái: Càn, Đoài, Khôn, Cấn. Tương ứng với các hướng:
Tây Bắc, Tây, Tây Nam, Đông Bắc.
Mỗi người trong chúng ta đều mang cho mình một Mệnh quái. Để tiện cho việc thiết kế nhà, người xưa đã thiết lập một bản đồ trạch nhà gọi là Trạch quẻ. Trạch quẻ cũng có 8 và phân ra 2 nhóm theo mối quan hệ tương sinh như sau:
Nhóm thứ nhất- Thổ sinh Kim- gồm các Mệnh quái Càn Đoài ( mang hành Kim) và Cấn Khôn (mang hành Thổ). Vì trong số này có 3 quẻ Càn Đoài Khôn nằm ở phía Tây trong bản đồ Hậu thiên bát quái, nên nhóm này được gọi là Tây tứ trạch.
Nhóm thứ 2- Thuỷ sinh Mộc, Mộc sinh Hoả – gồm các Mệnh quái Khảm (mang hành Thuỷ), Chấn (Mộc), Tốn (Mộc), Ly (Hoả). Nhóm này được gọi là Đông tứ trạch.
Vì 2 nhóm này mang Hành khắc nhau, nên ứng dụng vào việc làm nhà thì người thuộc Đông tứ mệnh nên dùng Trạch quẻ thuộc Đông tứ trạch. Ngược lại, người thuộc Tây tứ mệnh thì dùng Trạch quẻ thuộc Tây tứ trạch. Nếu dùng lẫn nhóm nọ sang nhóm kia thì dễ bị xung khắc.
Như vậy, khi dùng trạch quẻ để xây dựng nhà thì cần đảm bảo nguyên tắc là: Người có Mệnh quái thuộc Đông tứ mệnh thì dùng Trạch quẻ thuộc Đông tứ trạch; Người có mệnh quái là Tây tứ mệnh thì dùng Trạch quẻ thuộc Tây tứ trạch.
2. Bản đồ Trạch quẻ
Ta lấy thí dụ một bản đồ Trạch quẻ Chấn, gọi là Chấn trạch để phân tích (Hình 2.12). Cấu tạo Chấn trạch gồm có các vòng sau đây:
Vòng trong cùng ghi tượng hình và tên quẻ Chấn, mặt quay về phương Phục vị.
Cửa chính của nhà thường đặt vào phương này;
Vòng trong thứ 2 là 8 hướng;
Vòng thứ 3 là 8 quẻ trong Hậu thiên bát quái. Tên các quẻ này là không thay đổi ở cả 8 Trạch quẻ. ứng với mỗi quẻ là một Du niên (xem mục 1.7). Các Du niên ở các Trạch quẻ thì có thay đổi khác nhau thể hiện sự biến đổi của Trạch quẻ so với các quẻ khác trong Hậu thiên bát quái.

Trạch quẻ là gì? 1

Vòng thứ 4 ghi vòng sao Phúc đức. Trong đó Chấn trạch có sao Phúc đức tại Tị. Trong vòng sao Phúc đức những sao nào có dấu chấm đặt ở dưới là sao tốt;
Vòng thứ 5 ghi tên của 24 son hướng;
Vòng thứ 6 ghi khắc chia độ của vòng tròn 360°, bắt đầu 0° tại Khảm (Phưcng Bắc), 180° ở Ly (phưong Nam). Điều này là cô’ định cho tất cả 8 Trạch quẻ.
Ngoài cùng có ghi mức cát hung của mỗi Du niên. Ta thấy trong các cung thuộc Du niên tốt (cát) vẫn có cả những sao xấu. Ngược lại ở các Du niên xấu cũng vẫn có sao tốt. Đó là đặc điểm của Dịch học: trong Âm có Dương, trong Dương có Âm.
Các bản đồ của các Trạch quẻ khác cũng có cấu tạo theo nguyên tắc như trên.
Với cấu tạo một trạch quẻ như thế này, người dùng sẽ rất tiện lợi, chỉ việc xem mình thuộc Mệnh quái nào thì đem Trạch quẻ đó ra mà dùng. Thí dụ: bạn thuộc Mệnh quái Tốn thì chọn Tốn trạch ra dùng. Tác giả đã có đủ 8 Trạch quẻ in trong Phụ lục 3 để bạn đọc tiện sử dụng. Cách dùng được hướng dẫn trong mục 4.1.
3. Vòng 24 sơn hướng
Trong Bản đồ Trạch quẻ ở Hình 2.12 có vòng thứ 5 chứa đựng 24 Sơn Hướng, mỗi Sơn Hướng quản 15° của vòng tròn 360°. Các Sơn Hướng này gồm có 12 Chi, 8 Can và 4 Quẻ của Bát quái Hậu thiên. Như vậy mỗi cung của Bát quái quản 3 Sơn Hướng, tức 45°. Nguyên tắc bố trí tên các Sơn Hướng này như sau: 12 Chi được xếp theo đường thuận chiều kim đồng hồ, căn cứ theo 12 tiết của Tháng, bắt đầu từ Dần (Tháng Giêng). Các Chi này được xếp cách đoạn cứ 1 chi
Dương lại đến 1 Chi Âm, tạo thành 6 cặp xung nhau sau đây đúng như sơ đồ trên ‘ Hình 1.3:
Tý Ngọ xung nhau, Mão Dậu xung nhau Thìn Tuất xung nhau, Sửu Mùi xung nhau Dần Thân xung nhau, Tị Hợi xung nhau. Trong đó Tý Ngọ Mão Dậu đóng tương ứng ở trục Tứ chính là Bắc Nam Đông Tày (Hình 2.13.a).
8 Can được xếp cân đối 2 bên trục Tứ chính, Can Dương bên trái, Can Âm bên phải. Cụ thế: Giáp (+) ở bên trái Mão, At (-) bên phải Mão; Can Bính (+) bên trái
Ngọ, Đinh (-) bên phải Ngọ; Can Canh (+) bên trái Dậu, Tân (-) bên phải Dậu; Can Nhâm (+) bên trái Tý, Quý (-) bên phải Tý (Hình 2.13.b). Còn 4 quẻ được bố trí vào 4 Phương thuộc trục Tứ duy là Tốn ở Đông Nam, Khôn ở Tây Nam, Càn ở Đông Bắc và Cấn ở Đông Bắc (Hình 2.13.b).

Trạch quẻ là gì? 1