Xác định hướng cửa

Cửa chính là nơi hàng ngày dẫn khí vào nhà. Gọi là Hướng cửa hay Hướng cửa chính cũng vậy. Đó là phương trông nối từ Tâm nhà ra điểm giữa cửa chính của nhà. Vì vậy Hướng cửa chính có ý nghĩa quyết định trong việc dẫn khí tốt hay xấu vào nhà. Khí vào nhà qua cửa chính đến Tâm nhà, rồi phân tán đi các phòng trong nhà. (Đây là yêu cầu quan trọng mà người thiết kế nhà phải đảm bảo, tránh quy hoạch mật bằng nhà để khí từ cửa chính không vào được Tâm nhà). Nếu Hướng cửa chính tốt thì khí tốt sẽ vào nhà. Hướng cửa chính xấu thì khí xấu sẽ vào nhà.
Để có thể chọn được Hướng cửa thích họp cần có các thông tin sau đây:
Hướng nhà đã định
Tâm nhà đã định (thường Tâm nhà trùng với Tâm đất xác định
Trạch quẻ của chủ nhà
Hướng cửa cần đạt được 3 yêu cầu sau đây:
1. Nằm vào cung có Du niên tốt (Sinh khí, Thiên y, Phúc đức, Phục vị);
2. Nằm vào cung có sao tốt trong vòng sao Phúc đức
3. Có sao tốt trong vòng sao Nhị thập bát tú (vòng 28 sao) chiếu tới.
Vì cùng một lúc đạt được cả 3 yêu cầu này là rất khó, nên để đơn giản, tác giả không đặt yêu cầu phải đạt cả yêu cầu 3. Vòng sao Nhị thập bát tú chiếu tới cửa chính theo ngày, nên sao tốt cũng chỉ chiếu trong 1 ngày. Vì vậy ý nghĩa tốt xấu ở đây không lớn. Trong sách này cũng không giới thiệu vòng sao Nhị thập bát tú. Dưới đây chỉ giới thiệu phương pháp xác định Hướng cửa để đạt 2 yêu cầu 1 và 2 mà thôi.
Xác định Hướng cửa (hay Hướng cửa chính)
Hướng cửa được xác định như sau: Đặt bản đồ Trạch quẻ chủ nhà vào Tâm nhà đã xác định, sao cho đường Bắc-Nam của Trạch quẻ trùng với đường Bắc-Nam của kim La bàn. Chọn cung tốt trong vòng 24 sao Phúc đức làm Hướng cửa chính của nhà (Cung có chấm đen trong Hình 2.9). Hướng nhà sẽ là đường nối từ Tâm nhà ra giữa cửa chính. Khi miếng đất buộc phải đặt Hướng cửa nằm vào cung có Du niên xấu mà không thể khác được thì phải chọn trong 3 cung nhỏ thuộc Du niên đó lấy 1 cung tốt, và hoá giải bằng cửa phụ, cửa sổ, hướng bàn thờ và hướng lò bếp .
Hướng cửa cần tránh vào những cung phạm Bát sát, Hoàng tuyền, Thần sát và cung có Hành xung khắc hại với mệnh chủ nhà.
a) Tránh phạm Bát sát
Bát sát là 8 mối quan hệ xung sát dựa trên quy luật sinh khắc của Ngũ hành và có quan hệ đến Hướng cửa. Ta cần tránh các sát này khi làm nhà để đề phòng tai hoạ. Tám
sát đó là :
Ngọ sát Càn (Hoả khắc Kim)
Thìn sát Khảm (Thổ khắc Thuỷ)
Dẩn sát Cấn (Mộc khắc Thổ)
Thân sát Chấn (Kim khắc Mộc)
Dậu sát Tốn (Kim khắc Mộc)
Hợi sát Ly (Thuỷ khắc Hoả)
Mão sát Khôn (Mộc khắc Thổ)
Tị sát Đoài (Hoả khắc Kim)
Thí dụ:
– Hướng nhà Càn mà có long mạch chảy tới phương Ngọ vào Minh đường (tức là thu thuỷ từ Ngọ vào minh đường), hoặc mở thêm cửa vào cung Ngọ, hay chọn ngày Ngọ, tháng Ngọ để khởi công xây dựng nhà thì là phạm sát.
– Hướng nhà Tốn mà có long mạch chảy tới phương Dậu vào Minh đường (tức thuy thuỷ từ Dậu vào Minh đường), hoặc mở thêm cửa phụ ở cung Dậu, hay chọn ngày Dậu, tháng Dậu để khới công xây dựng nhà cũng là phạm sát.
– v.v… các Hướng nhà khác cũng vậy.
Chú thích:
Cung sát là một đơn quái bị sát, gồm có cả 3 cung mà quái đó quản: Ngọ sát Càn có nghĩa là cung Ngọ sát cả quái Càn (là quái chỉ Hướng nhà), gồm 3 cung Tuất Càn Hợi; Thìn sát Khảm nghĩa là cung Thìn sát cả quái Khảm gồm 3 cung Tý Quý Nhâm; v.v…
b) Tránh phạm Hoàng tuyền
Hoàng tuyền chỉ tính cho trục Tứ ly. Lý thuyết văn hoá xây dựng phương Đông quy định khi chọn Hướng cửa phải tránh không để phạm vào các cung Hoàng tuyền. Cụ thể như sau:
Hướng cửa Càn, Hoàng tuyền tại Tân, Nhâm Hướng cửa Cấn, Hoàng tuyền tại Quỷ, Giáp Hướng cửa Tốn, Hoàng tuyền tại Ất, Bính Hướng cửa Khôn, Hoàng tuyền tại Đinh, Canh
Thí dụ: – Nhà có cửa chính Hướng Khôn mà làm cổng, hay giếng nước ở cung Đinh hay cung Canh, hay thu thuỷ từ Đinh hay Canh vào Minh đường là phạm Hoàng tuyền. Ngược lại: Nhà có cửa chính Hướng Đinh hay Canh mà có cổng hay giếng nước ở cung
Khôn, hoặc thu thuỷ từ cung Khôn vào Minh đường thì cũng phạm Hoàng tuyền. Các Hướng cửa chính khác cũng theo nguyên tắc như vậy.
Sơ đồ vị trí Hoàng tuyền thể hiện trên Hình 3.7.

Xác định hướng cửa 1

c) Tránh phạm Thần sát
Các Thần sát chính gồm có: Thái tuế, Tuế phá. Ngũ hoàng sát, Tam sát, Ám kiếm sát.
1. Thái tuế: Thái tuế, còn gọi là Tuế thần, quản cát hung theo năm. Người xưa quan niệm vũ trụ có sao Tuế tinh là sao Mộc tinh, và cũng chính là sao Thanh long. Sao này chuyển vần một vòng trời hết 12 năm. Còn dưới đất có Thái tuế hay Thái âm chuyển vần 1 vòng theo 12 địa chi. Thái tuế được xác định rất đơn giản: Năm Tý, Thái Tuế đóng ở cung Tý (Bắc); Năm Ngọ Thái tuế tại cung Ngọ… năm Hợi thái tuế tại Hợi. Phương có sao Thái tuế chiếu đến sẽ có một trường khí mạnh, nếu ta tác động vào phương đó sẽ dễ sinh sát. Vì vậy làm nhà năm nào thì tránh Hướng cửa nhằm cung có Thái tuế đóng, hay không động thổ vào phương có Thái tuế. Nếu phạm Thái tuế thì sẽ rất dễ gặp tai hoạ.
Thái tuế có 2 đường vận hành: Vận hành theo địa bàn cỉtìt cung, di chuyển theo 12 Địa Chi, cứ năm Địa Chi nào thì Thái tuế đóng ở cung đó. (12 năm Thái tuế đi hết 1 vòng), và vận hành theo quỹ đạo Lượng thiên xích. Nghĩa là trên bán đồ cửu cung của mỗi nãm cung nào có sao trùng với sao Thái tuế địa bàn thì Thái tuế cũng đóng ở phương đó. Lấy thí dụ cụ thể:
Năm 2007 là năm Đinh Hợi, Thái tuế địa bàn đóng ở cung Hợi (Hợi thuộc quái Càn trong Hậu thiên bát quái-(Tuất Càn Hợi). Phi tinh năm Đinh Hợi 2007 thuộc Hạ nguyên, sao Nhị hắc Thổ vào Trung tâm (xem Bảng 2.3). Ta có bản đồ phi tinh như sau:

Xác định hướng cửa 1

Trong Cửu tinh đồ cơ bản, phương Càn có sao Lục bạch kim đóng. Trên bản đồ phi tinh năm 2007 sao 6 đóng ở phương Nam, chính là phương Thái tuế phi tinh đến. Như vậy nếu làm nhà vào nãm 2007 thì cần tránh đặt Hướng cửa Hợi, Ly (Bính Ngọ Đinh), hoặc tránh động thổ vào cung Hợi (nãm Hợi) và cung Ly. Nếu Hướng cửa chính lấy vào cung Hợi hoặc cung Ly thì ngay trong năm làm nhà đã bị sát, và cứ 12 nãm sát lại lặp lại.
2. Tuế phá: Phương đối diện với Thái tuế gọi là Tuế phá. Thái tuế tại Tý thì Tuế phá tại Ngọ; Thái tuế tại Hợi thì Tuế phá tại Tị vv…. Dòng khí vượng từ cung Thái tuế xông thẳng đến cung đối diện tạo thành sát. Vì vậy làm nhà cũng cần tránh cả phương có Tuế phá.
3. Ngũ hoàng sát: Sao Ngũ hoàng sát còn gọi là sao Chính quan sát hay Mậu Kỷ sát. Sao Ngũ hoàng khi đóng ở Trung tâm thì không gây sát, nhưng ra ngoài Trung tâm thì đến phương nào sẽ gây xung sát ở phương đó. Đây là sát khí dữ tợn nhất trong sát bàn. Vì vậy khi làm nhà trong năm nào thì tránh đặt cửa chính hoặc động thổ vào cung có sao Ngũ hoàng thổ đóng. Thí dụ: Trong bản đồ phi tinh năm Đinh Hợi 2007 ớ trên ta thấy sao Ngũ hoàng thổ đóng ở cung Cấn (Sửu Cấn Dần), vậy cần tránh đặt cửa chính và tránh động thổ vào cung Cấn trong năm Hợi. Nếu đật hướng cửa chính vào cung có sao Ngũ hoàng đóng thì ngay trong năm làm nhà đã bị sát, và cứ 9 năm sát lại lặp lại. Còn nếu động thổ vào cung có sao Ngũ hoàng đóng thì khi thi công làm nhà sẽ bị sát.
4. Tam sát: Tam sát gồm có Niên tam sát và Nguyệt tam sát. Nghĩa là cứ 3 năm hay 3 tháng tạo thành một hợp Cục sẽ có một phương có trường khí mạnh. Trường khí này xung khắc với trường khí của phương đối diện tạo thành sát. Cần tránh phương sát này. Cụ thể nêu trong Bảng 3.1.

Xác định hướng cửa 1

Xác định Mệnh chủ nhà như thê nào?
Mệnh chủ nhà là mệnh người chủ của ngôi nhà. Để xác định Hướng nhà và Hướng cửa cần phải biết Trạch mệnh của chủ nhà. Vì vậy việc xác định ai là chủ nhà là rất quan trọng.
– Đối với nhà ở gia đình: Chủ nhà là người đàn ông đứng ra làm chủ đầu tư xây nhà cho mình. “Đàn ông lầm nhà, đàn bà xây tổ ấm”- người cha và người mẹ, mỗi người có một trọng trách cao cả đối với sự phồn vinh của gia đình, sự hưng thịnh của nòi giống. Khi có đàn ông thì việc làm nhà nên đứng tên đàn ông. Khi trong gia đình không còn Bố hoặc con trai mới để Mẹ đứng chủ xây nhà.
– Đối với nhà cơ quan, như nhà làm việc của cơ quan hành chính: Nhà này có thể coi thủ trưởng cơ quan sử dụng nhà và đứng ra xây nhà là chủ nhà. Cũng có thể coi là nhà công không xác định rõ chủ nhà.
– Đối với nhà của công ty: Chủ nhà có thể lấy tên người bỏ vốn ra xây nhà. Nếu vốn là cổ phần thì thì có thể lấy tên Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc công ty, hoặc có thể coi là nhà không xác định rõ chủ nhà.
– Đối với những nhà không xác định rõ chủ nhà: Những nhà này có thể là: Nhà làm việc của cơ quan, nhà cho thuê vãn phòng, nhà ở chung cư, trường học, bệnh
viện, nhà hát, khách sạn nhà biệt thự xây hàng loạt để bán v.v… Những nhà này khó xác định được chủ nhà vì người sử dụng nhà và người đứng ra xây dựng nhà không có quan hệ ảnh hưởng gì với nhau về vận mệnh thông qua ngôi nhà (nó khác người Bố trong gia đình có ảnh hưởng rất sâu nặng đến từng thành viên trong gia đình). Đối với những nhà này, không cấn dùng Trạch quẻ chủ nhà để xác định Hướng nhà và Hướng cửa như nêu ở trên. Khi đó Hướng nhà được xác định theo những nguyên tắc chung ở mục 3.2.2-2). Hướng cửa của những ngôi nhà này phải lấy trùng với Hướng nhà. Sau này mỗi người sử dụng nhà sẽ chọn vị trí phòng ở hoặc phòng làm việc thích hợp với Trạch mệnh của mình.