Âm dương, ngũ hành, can chi – P1

1. thuyết âm dương
– Âm dương là một khái niệm chỉ sự thống nhất của 2 mặt đối lập, không chỉ một cái gì cụ thể. Âm dương có thể là: Trời đất, dài ngắn, cao thấp, lớn bé, dày mỏng, ngắn dài, nóng lạnh, trước sau, trên dưới, phải trái, lưng bụng, mặt trời mặt trăng, sáng tối, nhanh chậm, sâu nông, phúc họa, hung cát, ngày đêm, thiện ác, tốt xấu…
– Âm dương là hai mặt đối lập, hai yếu tố tương phản, nhưng luôn dựa vào nhau, chuyển hoá lẫn nhau, cực âm tất dương, cực dương tất âm, làm cơ sở cho nhau tồn tại và phát triển. Lão Tử viết rằng: “Thảy là tương đối, nghĩa là bao giờ cũng có phần đối đãi của cái tốt và xấu, thiện và ác, thị và phi, dài và ngắn, cao và thấp… Thiên hạ đều biết tốt là tốt thì đã có xấu rồi; đều biết lành là lành thì đã có cái chẳng lành rồi” [16]. Dịch hoc quan niệm hai mặt đối lập này là thống nhất. Đó cũng là tính duy vật của Dịch học.
– Trong một ngôi nhà có không gian âm và không gian dương. Một ngôi nhà không thể chỉ có không gian âm hoặc chỉ có không gian dương. Cân bằng âm dương khí trong nhà là rất quan trọng. (Xem mục 2.2.2 để biết thêm về Âm Dương khí trong nhà).
2. thuyết ngũ hành
2.1) Bản chất thuyết Ngũ hành
Thuyết Ngũ hành quan niệm thế giới được tạo nên bởi 5 loại vật chất cơ bản. Đó là: Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ.
– Kim: biểu thị các dạng kim loại, có tính cứng, thanh tĩnh.
– Mộc: biểu thị các loại hình cây cối, có tính sinh sôi, vươn lên.
– Thuỷ: là nước, hơi lạnh, có tính hàn lạnh, hướng xuống.
– Hoả: Là lửa, khí nóng, có tính nhiệt, hướng lên. (Lửa là một dạng nãng lượng hơn là dạng vật chất, vì ta chỉ có thể nhìn thấy và cảm nhận được nó, chứ không bốc được nó).
– Thổ: Là đất, đá, có tính tàng trữ, trưởng thành, hoá dục.
Sự vận động, tác dụng lẫn nhau của 5 loại vật chất cơ bản này đã tạo nên sự tiến hoá phát triển của vạn vật trên thế gian này.
2.2) Ngũ hành sinh khấc
– Thuyết Ngũ hành cho rằng, vạn vật tồn tại và phát triển trong mối liên hệ sinh khắc của Ngũ hành. Nó là nguồn gốc của sự biến hoá của vũ trụ. Tương sinh nghĩa là trợ giúp, ủng hộ, bồi bổ nhau. Tương khắc là ngăn cản, khống chế, làm hại nhau.
Ngũ hành tương sính gồm có: Kim sinh Thuỷ, Thuỷ sinh Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim.
Ngũ hành tương khắc gồm có: Kim khắc Mộc (dao kiếm có thể chặt được cây), Mộc khắc Thổ (cây có thể làm xác xơ đất), Thổ khắc Thuỷ (đất có thể ngăn được nước), Thuỷ khấc Hoả (nước có thể dập tắt lửa), Hoả khắc Kim (lửa có thế nung chảy kim loại).
Sinh khắc là 2 mặt không thể tách rời của sự vật. Nó duy trì và thúc đẩy vạn vật không ngừng vận động và phát triển. Mối quan hệ sinh khắc của sự vật được thể hiện trên sơ đồ sau đây (thể hiện thế này để người đọc dễ nhớ, đúng ra hành Thổ phải được đặt vào trung tâm):

Âm dương, ngũ hành, can chi - P1 1

– Sinh khắc của Ngũ hành cũng có giới hận, nếu quá thì sẽ mất ý nghĩa, cụ thể là:
Kim sinh Thuỷ, Thuỷ quá nhiều thì Kim chìm.
Kim khắc Mộc, Mộc quá cứng thì Kim tù.
Mộc sinh Hoả, Hoả quá mạnh thì Mộc tiêu.
Mộc khắc Thổ, Thổ quá cứng thì Mộc gãy.
Thuỷ sinh Mộc, Mộc quá nhiều thì Thuỷ hưu.
Thuỷ khắc Hoả, Hoả quá mạnh thì Thuỷ khô.
Hoả sinh Thổ, Thổ quá lớn thì Hoả diệt.
Hoả khắc Kim, Kim quá nhiều thì Hoả tử.
Thổ sinh Kim, Kim quá nhiều thì Thổ hư.
Thổ khắc Thuỷ, Thuỷ quá mạnh thì Thổ trôi.
Cho nên khi xét quan hệ tương sinh tương khắc của Ngũ hành cũng phải xem điều kiện cụ thể, có thể sinh hay khắc được không. Thí dụ: Kim vàng trang sức thì không thể khấc Mộc gỗ thông được.
3. Thiên Can, địa Chi
1) Thiên Can (gọi tắt là Can)
– Có 10 Can (5 âm, 5 dương), đó là:
Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý
– Mười Can phối âm dương, ngũ hành, phương vị, các mùa được thể hiện ở Bảng 1.1:

Âm dương, ngũ hành, can chi - P1 1

– Hợp khắc của Can: Các Can hợp từng đôi một theo 2 chiều thuận nghịch, và khắc đôi một theo 1 chiều như ở Bảng 1.2. Theo Bảng 1.2 ta hiểu Giáp hợp Kỷ và ngược lại Kỷ hợp Giáp. Giáp xung Mậu, nhưng Mậu không xung Giáp mà xung Nhâm.

Âm dương, ngũ hành, can chi - P1 1

– Có 12 Chi, đó là:
Dần Mão Thìn TỊ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi Tý Sửu
– Mười hai Chi âm dương, phối ngũ hành, phương vị, bốn mùa như ở Bảng 1.3, Cụ thể là: Các Chi Dần Mão mang hành Mộc, thuộc phương Đông; Tị Ngọ mang hành Hoả, thuộc phương Nam; Thân Dậu mang hành Kim, thuộc phương Tây; Hợi Tý mang hành Thuỷ, thuộc phương Bắc; còn các Chi Thìn Mùi Tuất Sửu mang hành Thổ, thuộc các phương tương ứng là Đông Nam, Tây Nam, Tây Bắc và Đông Bắc. Các Chi Dần Mão Thìn thuộc mùa Xuân, Tị Ngọ Mùi thuộc mùa Hạ, v.v…

Âm dương, ngũ hành, can chi - P1 1

– Mười hai Chi tương phối thời gian giờ, tháng, phương vị với cơ thể con người được thể hiện ở Hình 1.1. Y học cổ truyền dùng tương phối địa chi với thời gian và cơ thể con người để phòng chống bệnh tật dễ phát sinh theo các tháng trong nãm. Đồng thời cũng dùng trong quá trình chữa bệnh. Thí dụ một người chữa bệnh dạ dày thì nên chữa vào tháng 3, uống thuốc hoặc luyện tập hàng ngày vào giờ Thìn (7- 9 giờ), ngồi luyện tập (thí dụ tập khí công dưỡng sinh) trông về hướng Đông Đông Nam thì sẽ có hiệu quả cao hơn. Phương pháp khí công dưỡng sinh cũng lấy học thuyết âm dương ngũ hành, Bát quái làm cơ sở [27 -ỉ- 30].

Âm dương, ngũ hành, can chi - P1 1