Những nguyên tắc sinh khắc cần nắm khi dự đoán

Nhất sinh khắc hợp phá
Nhật (ngày dự đoán) là yếu tố mạnh trong dự đoán. Nhật kiến là ngày lập quái dự đoán. Hào được Nhật sinh thì trở lên vượng, các hào khác không xung phá hại được nó. (Hào vượng là hào được Nhật Nguyệt sinh hợp kiến. Còn vượng đến mức nào thì phải xem tình huống cụ thể cua hào đó).
Hào động mà được Nhật sinh hoặc hợp thì khắc chế được hào khắc. Hào tĩnh vượng mà được Nhật xung thì thành hào ám động (mạnh gần như hào động).
Dụng thần suy yếu hoặc bị hưu tù mà được Nhật sinh, kiến là có cứu.
Kỵ thần hợp Nhật thì Dụng thần nguy hại. Nhật sinh, kiến Nguyên thần thì Dụng thần gặp thuận lợi.
Hào được Nhật sinh thì có bị Nguyệt xung khắc cũng không bị thương, bị hào động khắc cũng không bị tổn thương, hoặc có biến hoá khắc cũng không xấu.
Hào được Nguyệt sinh, nhưng Nhật khắc thì vẫn suy yếu. Phải có thêm một yếu tố khác sinh cho thì mới khắc phục được Nhật khắc.
Dụng thần bị Nhật Nguyệt hào động khắc là thân cô thế cô, việc sẽ rất xấu.
Dụng thần, Thế lâm Không vong mà được Nhật xung thì mất Không vong. Mùa xung cũng mất Không vong.
Chú ý: Hào hợp Nhật (nhất là hào DT, T) thì phải chờ ngày xung Nhật hoặc xung hào ấy thì mới ứng nghiệm. (Bệnh khỏi: đến ngày xung mới khỏi. Bệnh chết: đến ngày xung mới chết).
Hào bị Nhật phá là hào tĩnh không vượng hoặc bị tuần không mà có địa chi xung với địa chi của Nhật. Hào bị Nhật phá thì xấu.
Nguyệt sinh khắc phá
Nguyệt (tháng dự đoán) là yếu tố không mạnh bằng Nhật trong dự đoán, nhưng cũng góp phần chi phối tính tốt xấu trong dự đoán, nhất là dự đoán trong thời gian của tháng. Thí dụ: Xem người ốm mà Dụng thần bị Nguyệt phá thì sẽ nguy nan trong tháng đó. Ra khỏi tháng đó thì mới hết bị Nguyệt phá. Hoặc đến ngày hợp thì cũng không còn bị phá.
Nguyệt kiến tức là Chi tháng sẽ chi phối trong tháng đó. Nguyệt kiến có thể trợ giúp hào suy bằng sinh hợp để biến suy thành vượng. Khi dự đoán mà ứng nghiệm chậm thì tính theo tháng.
Dụng thần đựoc Nguyệt sinh, nhưng Nhật phá thì cũng chỉ được dưới trung bình. Nếu được Nhật sinh nhưng Nguyệt phá thì cũng chỉ được mức trung bình.
Hào đựoc Nguyệt sinh hợp thì tốt, ngược lại bị Nguyệt khắc, phá thì không tốt.
Kỵ thần bị Nguyệt phá thì không khắc được Dụng thần.
Căn cứ vào Nguyệt kiến để biết được hào đó là vượng hay không.
Hào bị Nguyệt phá là hào có Chi xung với Chi của tháng dự đoán. Cụ thể:
– Tháng giêng kiến Dần, hào Thân bị Nguyệt phá
– Tháng 2 Mão, hào Dậu
– Tháng 3 — Thìn, hào Tuất
– Tháng 4 Tị, hào Hợi
– Tháng 5 kiến Ngọ, hào Tý
– Tháng 6 kiến Mùi, hào Sửu –
– Tháng 7 kiến Thân, hào Dần
– Tháng 8 kiến Dậu, hào Mão
– Tháng 9 kiến Tuất, hào Thìn
– Tháng 10 kiến Hợi, hào Tị
– Tháng 11 kiến Tý, hào Ngọ
– Tháng 12 kiến Sửu, hào Mùi
Chú thích: Tháng ở đây tính theo Tiết khí (xem Bảng 6.3).
3. Hào động sinh khắc xung hợp
Trong dự đoán, hào động có sức mạnh lớn, nên có ý nghĩa rất quan trọng, “Thần cơ tại động hào”. Nó có thể sinh, khắc, xung, hợp với tất cả các hào trong quái chủ. Hào ở quái biến chỉ có thể sinh, khắc, xung, hợp với hào tương ứng ở quái chủ mà thôi.
Hào ám động (hào tĩnh vượng được Nhật xung) có sức mạnh như hào động.
Vượng thắng suy. Nhưng khi hào vượng tĩnh mà hào suy động biến, lại có sinh phù, thì vượng không thắng được.
2. Tam hợp
Có 4 Tam hợp cục thường dùng trong dự đoán. Đó là:
– Tị Dậu Sửu (Kim cục)
– Hợi Mão Mùi (Mộc cục)
– Thân Tý Thìn (Thuỷ cục)
– Dần Ngọ Tuất (Hoả cục).
Cần có đủ 3 Địa Chi để tạo thành một Tam hợp. Cụ thể cần phải có một trong các điểu kiện sau đây:
– 3 hào trong trong quẻ chủ có 3 Chi tạo thành một Tam hợp.
– 1 hào trong quả chủ và Nhật Nguyệt tạo thành một Tam hợp
– 2 hào trong quẻ chủ với Nhật hoặc Nguyệt tạo thành một Tam hợp.
Tam hợp cục sinh cho DT, T thì tốt, sinh cho Ư thì ta bị thiệt.
Kỵ thần hợp cục thì Dụng thần bị nguy hại.
3. Nhị hợp
Các hào sau đây gọi là Nhị hợp:
– Hào tĩnh hay động hợp với Nhật hoặc Nguyệt. Khi đó hào này sẽ trở thành vượng tướng. Thí dụ trong quái có hào Mão mà dự đoán vào ngày Tuất hay tháng Tuất thì hào này gọi là nhị hợp (Mão hợp Tuất).
– Hai hào động có Chi hợp.
– Hào động hợp với hào do nó biến ra.
Gặp nhị hợp là gặp sinh phù, còn có thể hoá giải được tưcng khắc. Thí dụ hào Mão Mộc động biến sang Tuất Thổ là được nhị hợp. Khi đó có thể hoá giải Mộc khắc Thổ.
4. Hào có cứu
Một hào bị một hào vượng khác khắc, nhưng lại có một hào động sinh cho (hoặc khắc chế hào khắc đó) thì hào này gọi là có cứu. Hoặc hào bị Nhật khắc, nhưng lại được một hào động sinh cho thì cũng gọi là hào có cứu. Có cứu tức là đỡ xấu đi.
5. Bàn về hào Nguyên thần
Nguyên thần là hào sinh Dụng thần. Nhưng không phải lúc nào cũng sinh được cho Dụng thần.
a) Nguyên thần sinh được cho Dụng thần khi:
Nguyên thần lâm Trường sinh, Đế vượng, Nhật kiến;
Nguyên thần động hoá tiến thần hoặc hoá hồi đầu sinh (hoá sinh trở lại);
Nguyên thần lâm Nhật kiến, Nguyệt kiến;
Nguyên thần lâm Nhật Nguyệt lại là hào động;
Nguyên thần và Kỵ thần cùng động(khi đó Kỵ thần sinh Nguyên thần để Nguyên thần sinh Dụng thần).
Nguyên thần vượng động mà lâm tuần không hoặc hoá không, vì động thì không còn tuần không nữa, nhưng phải sau xuất không mới ứng nghiệm.
b) Nguyên thần không sinh được Dụng thần khi:
Nguyên thần hưu tù lại gặp Tuyệt địa;
Nguyên thần hưu tù lại gặp tuần không, nguyệt phá;
Nguyên thần hưu tù không động, hoặc động biến thành Tuyệt, động hồi đầu khấc;
Nguyên thần động mà hoá thoái thần;
Nguyên thần động mà hoá phá, hoá tán;
Nguyên thần lâm tam mộ.
6. Bàn vê hào Kỵ thần
Kỵ thần là hào khắc Dụng thần. Nhưng cũng không phải lúc nào cũng khắc được Dụng thần. Có lúc khắc được, có lúc không.
a) Kỵ thần khắc được Dụng thần khi:
Kỵ than vượng tướng lâm Nguyệt kiến, Nhật hợp;
Kỵ thần vượng động mà lâm không hoặc hoá không;
Kỵ thần động mà lâm Nguyệt, được Nhật sinh phù;
Kỵ thần động hồi đầu sinh hoặc hoá tiến thần;
Kỵ thần và Cừu thần cùng động (khi đó Cừu thần sinh Kỵ thần để Kỵ thần khắc Dụng thần);
– Kỵ thần là Trường sinh, Đế vượng.
b) Kỵ thần không khắc được Dụng thần khi:
Kỵ thần hưu tù lại lâm Tuyệt;
Kỵ thần động hoá thoái thần;
Kỵ thần hưu tù lại cùng bị Nhật Nguyệt khắc;
Kỵ thần động mà hoá phá hoá tán;
Kỵ thần tĩnh mà lâm không vong, bị phá;
Kỵ thần động mà nhập mộ.
Tuy nhiên khi qua các thời điểm trên, Kỵ thần vượng lên thì lại khắc được Dụng thần.
7. Bàn vê nhập mộ
Có 3 cách nhập mộ: Dụng thần nhập mộ; động mà nhập mộ; động mà hoá mộ. Dụng thần không nên nhập mộ. Kỵ thần nhập mộ thì tốt.
Dụng thần nhập mộ thì phải chờ đền ngày xung mộ mới có ứng nghiệm;
Dụng thần vượng mà gập tuần không, phá thì phải chờ đến lúc xuất không việc mới ứng nghiệm.
Dụng thần trùng lặp hoặc thái quá thì nên bị khắc hoặc bị mộ thì sự việc mới thuận lợi. Thí dụ Thổ là Dụng thần, lại gặp Thổ của Thìn Tuất Sửu Mùi là Dụng thần trùng lặp thái quá. Phải chờ có Dần Mão Mộc khắc mới ứng nghiệm.
10. Tham sinh quên khắc
Trong dự đoán, khi một hào nào đó Xung, khắc, hình, hại Dụng thần, Thế mà được một hào khác sinh hợp thì nó sẽ tham sinh mà quên khắc hình xung hại DT, T. Có thể nêu mấy thí dụ:
– DT Sửu Thổ.
Hào động Dần Mộc khắc DT (Mộc khắc Thổ).
Nhưng Dần Mộc động biến sang Tý Thuỷ. Khi đó Thuỷ sinh Mộc. Hào động Dần Mộc tham sinh nên không khắc DT nữa.
– DTTỊHoả.
Hào Hợi Thuỷ động biến, khắc DT (Thuỷ khắc Hoả).
Thêm hào Mão Mộc cùng động biến.
Khi đó hào Hợi Thuỷ mải sinh Mão Mộc để Mão Mộc sinh DT Tị Hoả. Khi đó Hợi Thuỷ không khắc DT Tị Hoả nữa.
– DT Thân Kim
Hào Hợi Thuỷ động biến.
Khi đó Hợi hình Thân, nhưng có Kim sinh Thuỷ nên hết hình.
– DT Dậu Kim.
Nguyên thần Thìn Thổ.
Ta có Thìn Thìn hình. Nhưng vì Thìn hợp Dậu nên hết hình. Ở đây gọi là hợp hình.
– DT Tuất Thổ.
Kỵ thần Mão Mộc.
Ta có Mộc khắc Thổ. Nhưng vì Mão hợp Tuất nên không khắc nữa. Ta gọi là hợp khắc.

Xem thêm: Bán nhà Hà Nội có sổ đỏ